thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Bài giảng về thơ [kỳ 1]
(Hoàng Ngọc-Tuấn dịch)

 

Scotus Erigena, nhà phiếm thần ở xứ Ái Nhĩ Lan, cho rằng Thánh Kinh chứa đựng một số lượng vô hạn của ý nghĩa, và ông đã so sánh nó với những chiếc lông lấp lánh vạn sắc của đuôi con công. Nhiều thế kỷ sau đó, một tín đồ của phái Kabbalah ở Tây Ban Nha nói rằng Thượng Đế đã viết Phúc Âm cho mỗi người ở Israel, vì thế có bao nhiêu người đọc Phúc Âm thì có bấy nhiêu bản Phúc Âm khác nhau. Điều này khả tín nếu chúng ta cho rằng tác giả của Phúc Âm cũng chính là đấng tạo ra phận mệnh của mỗi người đọc Phúc Âm. Người ta có thể cho rằng hai điều tôi vừa nói chỉ là những lối diễn đạt khác nhau của trí tưởng tượng Celtic và trí tưởng tượng Đông phương. Nhưng tôi dám nói rằng cả hai điều đều tuyệt đối chính xác, chẳng phải chỉ đúng cho cuốn Thánh Kinh mà còn đúng cho bất cứ cuốn sách nào đáng đọc đi đọc lại.

Emerson cho rằng một thư viện là một căn phòng kỳ ảo chứa những linh hồn bị say bùa mê. Chúng thức dậy khi chúng ta gọi chúng. Khi cuốn sách nằm im, khép lại, nó thật sự đúng, về cả ngữ nghĩa lẫn hình dạng, là một khối, một vật thể giữa những vật thể. Khi chúng ta mở nó ra, khi cuốn sách nạp mình cho người đọc của nó, một sự kiện mỹ học xảy ra. Và ngay cả đối với cùng một người đọc, chính cuốn sách ấy cũng thay đổi, bởi chúng ta thay đổi; chúng ta là dòng sông của Heraclitus, kẻ đã nói rằng con người hôm qua không phải là con người hôm nay, và sẽ không phải là con người ngày mai. Chúng ta thay đổi không ngừng, và mỗi lần đọc một cuốn sách, mỗi lần đọc lại, mỗi hồi ức về cuộc đọc lại ấy, đều phát minh cái văn bản thêm một lần nữa. Ngay cái văn bản ấy cũng là dòng sông luôn thay đổi của Heraclitus.

Điều này mang chúng ta đến với quan niệm của Croce, người có lẽ không phải là nhà tư tưởng thâm trầm nhất, nhưng là nhà tư tưởng ít có thành kiến nhất: ông có ý tưởng rằng văn chương là sự diễn tả. Từ đó sinh ra một quan niệm khác của Croce, một quan niệm thường bị quên lãng: nếu văn chương là sự diễn tả, văn chương được tạo nên bằng chữ, và ngôn ngữ cũng là một hiện tượng mỹ học. Đó là điều chúng ta khó chấp nhận: cái ý tưởng rằng ngôn ngữ là một sự kiện mỹ học. Hầu như không ai đi rao giảng quan niệm của Croce, tuy nhiên ai nấy đều không ngừng ứng dụng nó.

Chúng ta nói rằng tiếng Tây Ban Nha là một ngôn ngữ có âm vang, rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ giàu âm sắc, rằng tiếng Latin có một vẻ đường bệ nào đó mà tất cả những ngôn ngữ ra đời sau đó đều hướng vọng đến: nói thế, chúng ta đang ứng dụng những phạm trù mỹ học vào ngôn ngữ. Chúng ta vẫn sai lầm khi tưởng rằng ngôn ngữ phản ảnh điều bí ẩn mà chúng ta gọi là hiện thực. Thật ra, ngôn ngữ là một điều gì khác.

Hãy thử tưởng tượng một cái gì màu vàng, toả sáng, đổi dạng. Cái đó ở trên bầu trời, tròn trịa; có lúc nó có hình cánh cung, có lúc nó lớn ra và có lúc nó nhỏ lại. Một người nào đó -- tổ tiên của chúng ta, tổ tiên chung của chúng ta, đặt tên cho cái đó là trăng, tên gọi này khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau nhưng đều có vẻ đáng yêu riêng. Tôi trộm nghĩ chữ selene trong tiếng Hy Lạp thì hơi quá phức tạp cho trăng; chữ moon trong tiếng Anh có cái gì chậm rãi, cái gì đem vào cách phát âm một vẻ chậm rãi thích hợp với trăng, có vẻ giống như trăng vì chữ moon gần như có hình tròn: nó bắt đầu và kết thúc hầu như với cùng một mẫu tự. Còn chữ luna trong tiếng Tây Ban Nha, một chữ đẹp đẽ mà chúng ta thừa hưởng từ tiếng Latin và chia sẻ với tiếng Ý, gồm có hai âm tiết, hai mảnh, có lẽ hơi quá nhiều (so với một mảnh trăng). Chúng ta có chữ lua trong tiếng Bồ Đào Nha dường như không đáng yêu bằng; và chữ lune trong tiếng Pháp chứa đựng một điều gì bí ẩn. Trong tiếng Đức, chữ chỉ trăng thì có giống đực. Bởi vậy Nietzsche có thể nói rằng trăng là một nhà tu nhìn đăm đăm vào trái đất với vẻ thèm thuồng, hay là một con mèo, Kater, bước trên những tấm thảm của sao trời.

Chúng ta tưởng tượng rằng một người nào đó, ở đâu đó, đã phát minh chữ trăng. Hiển nhiên rằng phát minh đầu tiên ấy đã là một điều gì khác hẳn. Nhưng tại sao mọi sự không dừng lại với con người đầu tiên đã đặt tên cho trăng khi kêu lên chữ ấy hay chữ nào khác?

Có một ẩn dụ ở Ba Tư cho rằng trăng là tấm gương soi của thời gian. Trong nhóm chữ đó, tấm gương soi của thời gian, có cả vẻ mong manh của vầng trăng và sự vĩnh cửu của nó. Đó là cái nghịch lý của trăng, hầu như quá trong suốt, hầu như quá trống rỗng, nhưng thước đo của nó là sự vĩnh cửu. Khi nói trăng hay nói tấm gương soi của thời gian, chúng ta có hai sự kiện mỹ học, ngoại trừ sự kiện sau là công việc ở chặng thứ hai, vì tấm gương soi của thời gian được hình thành bởi hai thực thể, trong khi trăng, có lẽ với hiệu quả cao hơn, cho chúng ta cái "chữ", cái ý niệm về trăng. Mỗi một chữ là một tác phẩm mang thi tính.

 

[còn tiếp]

 

Nguyên tác: "La poesía", trong Jorge Luis Borges, Siete noches (Mexico: Fondo de Cultura Económica, 1980).

-------------------------

"La poesía" là một trong bảy bài giảng do Borges trình bày tại Teatro Coliseo, Buenos Aires, trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1977. Những bài giảng này đã bị nhiều người lén thu băng đem bán, rồi bị một nhóm người khác chép lại với nhiều sai sót, và phát hành lậu dưới hình thức một phụ trang cho một nhật báo ở Buenos Aires. Hai năm sau đó, Roy Bartholomew đem một trong những ấn bản lậu ấy đến gặp Borges, và cùng ông biên tập lại thật chính xác để chính thức ấn hành tại Mexico vào năm 1980. (theo Roy Bartholomew, trong phần "Epilogo" [Lời bạt] ở cuối sách)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018