thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Giới thiệu về các nhà thơ trẻ Canada
Người dịch: Nguyễn Đức Tùng

 

Lời người dịch: Có lẽ ít người Việt Nam, kể cả những người đang sống tại Bắc Mỹ, lưu tâm để thấy rằng Canada có một nền thơ sôi động. Dưới đây là lời giới thiệu được viết bởi hai nhà biên tập Lorna Crozier và Patrick Lane, mở đầu tuyển tập có Breathing Fire: Canada’s New Poets, do nhà xuất bản Habour Publishing ấn hành năm 2001. Nhan đề trên do chúng tôi đặt. Đây là bài đầu tiên trong loạt bài viết hoặc phỏng vấn của những tác giả khác nhau, mà chúng tôi hi vọng sẽ có dịp lần lượt dịch và đăng tải trong những kỳ tới.
      Xin nói thêm rằng những tranh luận sôi nổi về thơ Việt nam, thơ trẻ, chủ nghĩa hậu hiện đại... trên talawas và tiền vệ gần đây cũng là một nguồn hứng khởi cho chúng tôi.

 

 

Trong những năm sáu mươi ở Canada, một thế hệ các nhà thơ mới bắt đầu xuất hiện. Sinh ra cách nhau chỉ vài năm, các nhà thơ như Margaret Attwood, John Newlove, Dennis Lee và G. Mac Ewen, bắt đầu đi đọc thơ, lập ra các tờ báo, xuất bản những tạp chí nhỏ và các cuốn sách của họ. Tiếp theo sau sự kế thừa tài năng đầy ấn tượng khởi xướng từ các tên tuổi lớn như Purdy, Page, Birney, Layton và Webb trong thế hệ trước đó, các tác phẩm của họ đã được trích dẫn như là bằng chứng hùng hồn về sự phát triển rực rỡ của văn học Canada.

Cuối những năm bảy mươi, người ta chứng kiến sự một phát triển hơn nữa với sự xuất hiện của các tác giả như B. Wallace, M. di Michele, D. Zieroth, R. Borson và P. Friesen. Những người này cũng sinh ra gần như cùng thời với nhau, nghĩa là vào khoảng cuối những năm bốn mươi, đầu những năm năm mươi.

Giờ đây là một thế hệ hoàn toàn mới mà thơ ca của họ đã bắt đầu xuất hiện trên các trang sách, đó là các nhà thơ sinh vào khoảng những năm sáu mươi cho đến khoảng giữa những năm bảy mươi. Chúng tôi đã gặp rất nhiều người trong số họ khắp nơi ở Canada, trong các lớp viết văn mùa hè, trong các thư viện và trường đại học qua công việc của chúng tôi như là các giảng viên và các nhà thơ thường trú (poets-in-residence). Cả hai chúng tôi đều kinh ngạc không chỉ vì tài nghệ thơ ca của họ, mà còn vì lòng say mê nghệ thuật và niềm ao ước muốn được tỏa sáng từ bên trong. Chúng tôi nghĩ đây chính là lúc sẽ có một người nào đó mang tất cả những người trẻ tuổi này lại với nhau ở giữa hai bìa trước và sau của một cuốn sách, như là bằng chứng của một thời kỳ rực rỡ khác nữa của nền văn học chúng ta.

Al Purdy đã làm một công việc giống như công việc chúng tôi đang làm, với tuyển tập gồm hai bộ gọi là Báo Bão IBáo Bão II, xuất bản năm 1971 và 1976. Đầu những năm tám mươi, Dennis Lee cũng biên soạn một tuyển tập gọi là Các Nhà Thơ Canada Mới. Để định nghĩa thế nào gọi là mới, ông đã chọn các nhà thơ mà tập thơ đầu của họ xuất hiện sau năm 1970. Vì vậy, bốn mươi nhà thơ trong tuyển tập này có độ tuổi từ hai mươi đến sáu mươi. Mặc dù cuốn sách của Dennis Lee tập hợp khá đầy đủ các chi tiết chủ yếu, nó không tập trung vào một thế hệ nào nhất định, điều mà hiện nay chúng tôi muốn làm vì chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến sự tương tự và sự khác biệt giữa các thế hệ

Sau khi đã có một quan điểm rõ ràng về vấn đề làm tuyển tập, chúng tôi tiếp cận nhà xuất bản Harbour, kẻ đã đồng ý chấp nhận dự án một cách hào phóng, và bắt đầu gởi thư mời tham dự đến khắp nơi. Từ con số hàng trăm người, chúng tôi chọn được năm mươi người, nhưng rồi cũng đến cái lúc mà chúng tôi gặp khó khăn về sự chọn lựa, nỗi khó khăn mà tất cả những người làm tuyển tập thơ thế nào rồi cũng phải trải qua. Chúng tôi vốn mong gởi đến bạn đọc những mẫu điển hình đầy ý nghĩa của các tác gia trẻ, và điều này suy cho cùng chỉ có thể làm được bằng cách thu hẹp hơn nữa số các nhà thơ được chọn vào.

Chúng tôi cố gắng cưỡng lại sự cám dỗ của việc sử dụng các tiêu chuẩn thông thường như giới tính, chủng tộc, và trú quán của các nhà thơ, điều có thể làm dễ dàng hơn cho việc lựa chọn về một phương diện nào đó. Thay vì vậy, chúng tôi đã đọc tất cả các bản thảo được gởi tới với sự nhạy cảm đầy cởi mở và say sưa của những độc giả thơ.

Chúng tôi tìm kiếm những bài thơ mang lại cảm giác sung sướng, sự kinh ngạc và lôi cuốn, những bài thơ phát ra niềm vui bất tận của ngôn ngữ và làm rung động chúng tôi đến mức mà người ta đôi khi tự hỏi thơ ca là cái gì mà có quyền năng như thế *.

Chúng tôi gạt ra ngoài các vấn đề khác như đề tài của thơ và hình thức của thơ, nghiêng về một niềm tin tổng quát hơn rằng thơ là sự thân mật làm nối kết con người lại với nhau. Thơ có thể, và nên, làm xúc động chúng ta trong một trạng thái tỉnh thức cao cả và đồng thời nhắc nhở chúng ta về tính cách người mà bất cứ ai cũng đều chia sẻ. Thơ có thể, và nên, mang trong nó sức mạnh của những chữ bình thường đã được biến đổi thành thiêng liêng. Có thể nói rằng những bài thơ trong tuyển tập này đạt được điều đó, và một số bài, làm được nhiều hơn thế nữa.

Các nhà thơ trẻ của chúng ta rất tài năng, đầy phấn khích và trưởng thành. Nadine Shelly, chẳng hạn, xuất bản tập thơ của cô với nhà xuất bản Exile lúc mới mười sáu tuổi, Karen Connelly là nhà thơ trẻ nhất từ trước tới nay nhận được giải thưởng văn chương quốc gia do Toàn Quyền Canada trao tặng. Evelyn Lau nhận được giải thưởng Milton với tập thơ đầu tay và vào chung kết giải thưởng quốc gia bằng tập thơ thứ hai. Những người khác trong tuyển tập này đã lừng danh với các giải thưởng về thơ của Canada như giải Gerald Lampert, giải Bronwen Wallace, giải thưởng về thơ của tỉnh British Columbia và giải đặc biệt của Hội các nhà thơ Canada. Sự phức tạp và đa diện của những người trẻ tuổi này cũng nhiều như chính tài năng của họ. Chủ đề của thơ họ di chuyển từ tính bất khả của việc tìm kiếm một người đàn ông tuyệt hảo cho đến tội giết trẻ em của một con thỏ, cho đến cuốn sách ngọt ngào của một bụi dâu đen, từ một trong những bà vợ của vua Solomon đến cô Alice của Wonderland, cho đến một đứa trẻ ở trong cái lọ. Mặc dù vậy, hầu hết các nhà thơ đều quay lại với gia đình mình, bằng cách này hay cách khác, mang tới cho người đọc hình ảnh thân thiết của những người cha, người mẹ, được nhìn xuyên qua cặp mắt của trẻ con, những đứa trẻ sau này lớn lên trở thành những nhà thơ và quyết định kể lại câu chuyện của họ. Nhưng có thể nào người ta lại không kể ra cho được câu chuyện kỳ thú về một người mẹ bị con ngựa của bà nhấc bổng lên bằng sợi tóc, hay một người cha dẫn đứa con gái đi bằng bước đi khiêu vũ vào đống lửa?

Thơ tự do trữ tình, với tính cách kể chuyện tiềm ẩn, tiếp tục là hình thức phổ biến nhất được sử dụng bởi các nhà thơ hiện nay, cũng như đã xảy ra với thế hệ đi liền trước họ. Một lần nữa chúng ta được nhắc nhở rằng thơ trữ tình có thể dung chứa trong nó biết bao bờ cõi mênh mông và phức hợp. Mặc dù hầu hết các bài thơ đều tiến về phía gần với ngôn ngữ trò chuyện hằng ngày hơn là về phía các bài hát, những người làm tuyển tập chúng tôi có khuynh hướng đánh giá cao hơn cho những bài thơ có nhạc tính, giàu biến điệu và sự lập lại của các âm; những điều này  làm tăng thêm sự giàu có sang trọng cho ngôn ngữ nói hằng ngày.

Chúng tôi ít gặp các bài thơ xuôi được gởi về trong quá trình làm tuyển tập, mặc dù một số cũng được chọn ở đây, và gần như không có một đại biểu nào cả từ trường phái thơ Tân hình thức, trừ một hai khổ thơ ngắn có vần **, và một vài bài sonnet biến thể.

Mặc dù chúng tôi không hề cố ý dàn xếp, điều đáng vui mừng ở đây là tuyển tập phản ánh tính đa văn hóa và đa địa phương trong sinh hoạt của xã hội chúng ta. Đây quả thực là một hình ảnh tiêu biểu của đất nước Canada, xuyên suốt từ Đại tây dương đến Thái bình dương, cân bằng giữa những bài thơ về người đánh cá hồi ở vùng biển phía Tây đến một người đánh cá mo-ruy *** ở phía Đông. Do một vài nguyên nhân nào đó, có nhiều nhà thơ từ tỉnh British Columbia gởi bài về chúng tôi hơn là từ các tỉnh khác, và cả trước và sau khi được chọn, số các cây bút nữ cũng nhiều hơn hẳn các cây bút nam. Một số nhà thơ như Marisa Alps *****, Sally Ito và Greg Scofield, đem các liên hệ huyết thống và chủng tộc của họ vào văn chương.

Đây là một tập hợp rất thực của những người trồng cây, các nhà báo, các giáo sư đại học, những người đánh cá trên biển, các nhân viên nhà xuất bản và các thư ký văn phòng, những người trong khi vẫn thực hiện hoàn hảo công việc được trả lương hằng ngày, vẫn dành cho thơ vị trí trung tâm trong đời sống của họ.

Tiếng nói của họ đầy sự can đảm, soi sáng, và đôi khi điên rồ một cách trẻ trung. Cũng có cả sự giận dữ trong một số bài thơ, nhưng không có sự nghi kỵ thù hằn hay tính bàng quan lạnh lẽo. Ngược lại, các nhà thơ mới của chúng ta dấn thân vào ngôn ngữ và thế giới theo một phương cách không thể nào chê trách được. Có vẻ như là đang có một chủ nghĩa lãng mạn mới, một niềm tin mới vào sức mạnh của thơ ca, rằng chúng có thể cứu chuộc, làm mới lại hay khơi lại những niềm hứng thú đã qua, đã mất đi. Không nghi ngờ gì nữa, đây là một tập hợp những người viết đang “thở lửa”****vào tương lai.

 

-------------
Chú thích:
1        * người dịch nhấn mạnh
2        ** nguyên văn: a single sestina and ghazal
3        *** cod
4        **** Breathing Fire là tên gọi của tuyển tập
5        *****Marisa Alps là người mang hai dòng máu Tây phương và Trung hoa.

 

Mời bạn đọc thưởng thức một bài thơ của cô sau đây.

 

 

              Marisa Alps

           Khiêu Vũ

 

              có lần tôi bắt gặp mẹ tôi khiêu vũ

              bà hát và khóc ( thật lâu )

              khi ngoài trời giá băng tuyết đổ

 

              nhẹ buông mái chèo trên dòng nước

              mẹ lướt đi. Tất cả đều vươn tới

              sự lặng lẽ kinh ngạc

 

              khiêu vũ

              với đôi tay dạt dào như sóng

              vỗ bờ, xoay lượn, uốn cong

              nhưng mạnh mẽ

 

              lao đầu vào trận gió

              mẹ xuyên qua nốt nhạc

               (tôi đột nhiên bước vô

              bắt gặp cha tôi sững sờ

              cười khúc khích

              đi lò cò

              rồi ông quay lui, lo sợ)

 

              đã bao năm mẹ cất giấu nó nơi nào?

 

              mẹ mang nó ra một dạo

              mỗi năm, để ngắm nhìn

              rũ nó, chải nó

              vuốt nó, cho đến khi nó lấp lánh ánh mặt trời

              mềm, nóng bức

              ủi là bằng sức nóng của căn phòng

              và những chiếc bóng

 

              rồi mẹ cất đi

              sập ngăn tủ

              cho đến khi

              mẹ cần nó nữa.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018