thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Năm bài thơ không đề
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 
 
ZOFIA ZARĘBIANKA
(1958~)
 
Zofia Zarębianka sinh năm 1958, là một nhà thơ, người viết tiểu luận và phê bình văn học người Ba Lan, hiện giảng dạy tại Phân khoa Văn học hiện đại, Đại học Jagiellonian ở Crakow và là thành viên của Văn bút và Hội liên hiệp các Nhà văn Ba Lan [SPP - Stowarzyszenie Pisarzy Polskich]. Trung tâm nghiên cứu của bà là thơ ca tôn giáo thế kỷ 20, với những bài viết về các nhà thơ Kamienska, Jankowski, Twardowski, và Karol Wojtyla, tức Giáo hoàng Jean-Paul II, nhưng lĩnh vực hoạt động văn học của bà mở rộng, và ngoài những tác phẩm giá trị phổ biến trên các chuyên san như Dekada Literacka, Przeglad powszechny, Horyzonty wary, W drodze, Rocznik humannistyczny [KUL], bà còn đóng góp nhiều bài vở cho nguyệt san Nasza Rodzina ở Paris [Edition du Dialogue], cũng như điểm sách cho tạp chí List.
 
Giới thiệu thơ Zofia Zarębianka, Regina Grol viết: “Thơ bà [Zarębianka] khóc thương cho tuổi già và biện hộ cho tuổi trẻ với phong cách qui ước, thường là dưới hình thức một lời cầu nguyện riêng tư... Ngôn ngữ hình tượng của bà đơn giản, nhưng cảm động... [Ambers Aglow – An Anthology of Contemporary Polish Women’s Poetry (Austin, Texas: Host Publications, Inc., 1996)]. Một trong những cái nhìn ấn tượng nhất của bà là về thơ ca của Zbigniew Herbert [Pryncypia Pana Cogito albo DokAd po hernercie / Những nguyên tắc của Ông Cogito, hay là đi đến đâu sau Herbert? (Homini Publishing House, 1999)] mà bà cho là một hoà hợp tuyệt vời những chọn lựa kích thước đạo đức và thẩm mỹ, lý trí và tưởng tượng – nối dài những truyền thống lãng mạn vốn là nền tảng bản chất dân tộc Ba Lan.
 
Nhà thơ Zofia Zarębianka là tác giả của những cuốn: Poezja wymiaru sanctum (Lublin, 1992), Swiadectwo slowa. Rzecz o tworczosci Anny Kamienskiej Zakorzenienia Anny Kamienskiej [các chuyên khảo về nhà thơ Anna Kamienska] (Crakow, 1993 và Crakow 1997), Czlowiek rosnie w Ciszy, thơ (Crakow, 1992), Wyrwane z przestrzeni (Crakow, 1996), Niebo w czerni (Bydgoszcz, 2001) và O ksiazkach, ktore pomagaja byc (Crakow, 2004)...; và là đồng tác giả của cuốn: Dwanascie Bozych slow [“Twelve Divine Words”] (Crakow, 1992).
 
 

NĂM BÀI THƠ KHÔNG ĐỀ

 
* * *
 
Không, ta chẳng thấy thoả mãn khi
nhận ra
Thượng đế rủ lòng thương ta
ta cần con người
sự tử tế và ân cần của người
cần những nụ cười những ánh mắt
cần lời nói và cả sự im lặng của người
có thế ta mới tin
 
 
* * *
 
Đôi khi chỉ sự hiện diện
đã đủ
một cái nhìn
một nụ cười chân thật
để ta tìm thấy
ký ức của thế giới
đã lạc mất trong sự dửng dưng
 
                    Tháng Sáu, 1984
 
 
* * *
 
                    Gửi mẹ tôi
 
Vào buổi hoàng hôn
cây húng dại thơm hơn bao giờ
và thế gian hiện hữu đầy dẫy hơn
khi đường biên đụng tới chân trời
Vào buổi hoàng hôn cuộc đời
chim im tiếng hót quanh hiên nhà
rượu vang thâm màu đỏ đậm
Sự im lặng rơi
và những giọt lệ trào đọng lại ở
khoé mắt.
 
           Rabka, 24 tháng Bảy, 1991
 
 
* * *
 
                   .Gửi cha tôi
                    Mieczyslaw Bednarz
 
Và hôm nay cha đánh thức con dậy
để dự đám tang của cha
và máu sẽ chảy
ngược dòng
 
         Paris, 15 tháng Bảy 1993
 
 
* * *
 
Làm sao con có thể đứng trước Chúa, Chúa ôi,
với gánh hàng nặng trĩu
của chính con,
khi mọi thứ đều đã tiêu tan
và mục nát
và hai bàn tay thì đầy
những điều tốt chưa làm được?
 
 
--------------------------
Dịch từ bản tiếng Anh của Regina Grol trong Ambers Aglow – An Anthology of Contemporary Polish Women’s Poetry 1981-1995,(Austin, Texas: Host Publications, Inc., 1996).
 
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018