thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông cáo |
văn học
Bài điếu văn

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

 

HERTA MÜLLER

(1953~)

 
Lời người dịch:
 
“Bài điếu văn” (bản tiếng Anh là “The Funeral Sermon”; nguyên tác tiếng Đức là “Die Grabrede”) là một truyện ngắn được viết bằng một bút pháp linh động: tuỳ theo các chi tiết diễn biến của câu chuyện, tác giả hoán đổi cái nhìn của người kể giữa hai trạng thái hiện thực và siêu thực, khiến cảm giác của người đọc đong đưa giữa những hình ảnh như thực và như chiêm bao.
 
Tạp chí Publishers Weekly nhận định: “Trong truyện 'Bài điếu văn', Müller tái hiện những ý nghĩ hỗn độn manh mún của một cô bé trong đám tang của cha. Cô nghe người ta kể về những tội ác chiến tranh tàn nhẫn của ông ấy và hành động dục tính dã man của ông ấy, nhưng độc giả không rõ phải chăng cô bé là một người kể chuyện đáng tin cậy, hay thậm chí lúc ấy cô đang thức hay ngủ.”
 
Thế nhưng, sự mơ hồ này lại khiến câu chuyện chạm đến chiều sâu của lương tâm qua những chi tiết gây ám ảnh nơi người đọc: chẳng hạn, người phụ nữ Nga bị cha cô bé hiếp dâm và bạo hành tình dục trong thời chiến tranh giờ đây dường như đột nhiên biến thành chính người mẹ của cô bé; bài điếu văn dành cho cái chết của cha cô bé đột nhiên biến thành bản cáo trạng dành cho cô bé; và đám tang của cha cô bé đột nhiên biến thành một pháp trường nơi cô bé bị lên án và xử tử hình bởi chính những người đến dự đám tang...

 

_______________

 

BÀI ĐIẾU VĂN

 

Tại nhà ga, những người họ hàng thân quyến chạy dọc theo con tàu đang nhả khói. Họ vừa chạy vừa giơ tay lên vẫy.

Một anh thanh niên đứng sau một khung cửa sổ của con tàu. Tấm kính cửa sổ cao ngang nách anh. Anh giữ chặt một bó hoa trắng tả tơi vào ngực. Khuôn mặt anh cứng đờ.

Một thiếu phụ đang bế một đứa bé ngoan ngoãn, bước ra khỏi nhà ga. Đó là một thiếu phụ bị gù lưng.

Đoàn tàu đang chở lính ra chiến trường.

Tôi tắt máy truyền hình.

Cha đang nằm trong một chiếc quan tài ở giữa phòng. Các bức tường bị phủ kín bởi quá nhiều bức ảnh đến mức bạn không thể trông thấy vách.

Trong một bức ảnh, Cha đứng cao bằng nửa chiếc ghế ông đang vịn vào. Ông mặc áo vạt dài và đôi chân vòng kiềng của ông thì đầy những cuộn mỡ. Đầu ông hình trái lê và không có tóc.

Trong một bức ảnh khác, Cha là chú rể. Bạn chỉ thấy được nửa ngực của ông. Nửa còn lại là một bó hoa trắng tả tơi trong tay Mẹ. Đầu hai người kề sát nhau đến mức trái tai của họ chạm vào nhau.

Trong một bức ảnh khác, Cha đứng thẳng tắp trước một hàng rào. Tuyết nằm dưới đôi giày ống của ông. Tuyết quá trắng đến nỗi Cha trông như đang đứng giữa khoảng không. Ông đưa một bàn tay lên cao hơn đầu trong tư thế chào. Trên cổ áo ông có những ký tự bí ẩn.[*]

Trong bức ảnh kế đó, Cha vác một cái cuốc trên vai. Phía sau ông là một cây bắp chĩa thẳng lên trời. Cha đang đội một cái mũ trên đầu. Cái mũ phả một khoảng tối lớn che cả khuôn mặt ông.

Trong bức ảnh tiếp theo, Cha đang ngồi sau tay lái của một chiếc xe tải. Trong xe tải, những con bò đứng chen chúc. Mỗi tuần Cha lái xe chở bò đến lò sát sinh trong thành phố. Khuôn mặt cha gầy guộc và có những nét khắc khổ.

Trong tất cả những bức ảnh ấy, Cha bị đông cứng ở nửa chừng của một cử chỉ. Trong tất cả những bức ảnh ấy, Cha có vẻ như không biết phải làm gì. Nhưng thật ra lúc nào Cha cũng biết phải làm gì. Vì vậy nên tất cả những bức ảnh ấy đều sai. Tất cả những bức ảnh giả tạo ấy, tất cả những khuôn mặt giả tạo ấy khiến căn phòng trở nên lạnh lẽo. Tôi muốn đứng dậy khỏi chiếc ghế của tôi, nhưng cái váy của tôi đã bị đóng băng dính cứng vào gỗ. Cái váy của tôi trong suốt và đen. Nó kêu răng rắc mỗi khi tôi cử động. Tôi nhổm dậy và sờ vào mặt Cha. Mặt Cha lạnh hơn các đồ vật trong phòng. Ngoài kia đang là mùa hè. Đàn ruồi thả những con giòi trong khi bay. Ngôi làng trải dài theo một con đường cát rộng. Con đường nóng bỏng và nâu giòn, và đốt cháy đôi mắt của bạn bằng những tia sáng chói chang của nó.

Nghĩa địa được xây bằng đá. Có những tảng đá trên các ngôi mộ.

Khi tôi nhìn xuống đất, tôi thấy hai đế giày của tôi nằm lật ngửa. Thì ra, suốt cả thời gian đó, tôi đã bước dẫm lên những dây giày của mình. Dài và nặng, chúng nằm lòng thòng sau gót chân tôi, những đầu dây cong lên.

Hai người đàn ông nhỏ thó bước loạng choạng đang nhấc chiếc quan tài ra khỏi xe tang và hạ nó xuống huyệt bằng hai sợi dây thừng tơi tả. Chiếc quan tài đong đưa. Bốn cánh tay và hai sợi dây thừng càng lúc càng giãn dài ra. Huyệt mộ ngập nước dù trời đang mùa hạn. Bố của cô đã giết nhiều người, một trong hai gã nhỏ thó lè nhè men rượu nói.

Tôi nói: ông ấy đi đánh trận. Mỗi lần giết đủ hai mươi lăm người thì lãnh một tấm huy chương. Ông đã mang về nhà mấy tấm huy chương.

Ông ấy đã hiếp dâm một phụ nữ trong một cánh đồng trồng củ cải, người đàn ông nhỏ thó nói. Cùng với bốn người lính khác. Bố của cô đã thọc một củ cải vào giữa hai chân cô ta. Khi bọn tôi bỏ đi thì cô ta đang chảy máu. Cô ta là người Nga. Suốt nhiều tuần lễ sau đó, bọn tôi gọi mọi thứ vũ khí là những củ cải.

Lúc ấy là cuối mùa thu, người đàn ông nhỏ thó nói. Những lá cải nám đen và quăn lại vì sương muối. Rồi người đàn ông nhỏ thó đặt một hòn đá to lên chiếc quan tài.

Người đàn ông nhỏ thó thứ nhì lại lè nhè men rượu nói tiếp:

Vào dịp Năm Mới, bọn tôi đi xem nhạc kịch trong một thị trấn nhỏ của dân Đức.[**] Giọng hát của cô ca sĩ nghe chói óc như những tiếng kêu thét của cô gái Nga ấy. Từng người một, bọn tôi rời khỏi nhà hát. Bố của cô ở lại xem cho đến hết. Suốt nhiều tuần sau đó, ông ấy gọi tất cả các bài hát là củ cải và tất cả đàn bà là củ cải.

Người đàn ông nhỏ thó uống rượu schnapps. Dạ dày của gã kêu óc ách. Cái bụng của tôi đầy rượu schnapps cũng như huyệt đầy nước ngầm vậy, người đàn ông nhỏ thó nói.

Rồi người đàn ông nhỏ thó đặt một hòn đá to lên chiếc quan tài.

Người đàn ông đọc điếu văn đang đứng cạnh cây thập giá bằng cẩm thạch trắng. Ông ta bước về phía tôi. Ông ta xỏ hai bàn tay vào trong hai túi áo khoác.

Người đàn ông đọc điếu văn có một bông hồng to bằng bàn tay gắn vào lỗ khuy áo. Nó mượt như nhung. Khi đến sát bên cạnh tôi, ông ta rút một bàn tay ra khỏi túi. Đó là một bàn tay nắm chặt lại. Ông ta cố duỗi thẳng các ngón tay ra nhưng không được. Sự đau đớn làm mắt ông ta lồi ra. Ông ta bắt đầu khóc thầm. Trong chiến tranh, anh không thể làm việc chung với đồng bào của anh, ông ta nói. Anh không thể sai bảo họ làm mọi việc.

Rồi người đàn ông đọc điếu văn đặt một hòn đá to lên chiếc quan tài.

Bây giờ một người đàn ông mập bước đến đứng bên cạnh tôi. Đầu hắn giống như một cái ống trơn lì không có mặt mũi.

Bố của cô đã ngủ với vợ của tôi suốt nhiều năm, hắn nói. Ông ấy đã tống tiền tôi khi tôi say rượu và ăn cắp tiền của tôi. Hắn ngồi xuống trên một tảng đá.

Rồi một mụ gầy gò nhăn nheo bước đến tôi, nhổ toẹt xuống đất, và nguyền rủa tôi.

Đám người dự tang lễ đang đứng ở đầu bên kia của huyệt mộ. Tôi nhìn xuống mình và hoảng hốt vì họ có thể nhìn thấy ngực của tôi. Tôi cảm thấy lạnh.

Mắt mọi người đều nhìn chòng chọc vào tôi. Những cặp mắt trống rỗng. Những đôi con ngươi mở trừng trừng từ dưới mí mắt của họ. Đám đàn ông vác súng trên vai, và đám đàn bà rung những chuỗi tràng hạt kêu lào xào.

Người đọc điếu văn đang ngắt vào cái hoa hồng của ông ta. Ông ta xé đứt một cánh hoa đỏ như máu và ăn nó.

Ông ta dùng bàn tay ra hiệu cho tôi. Tôi biết bây giờ là lúc tôi phải phát biểu. Mọi người đang nhìn tôi.

Tôi không nghĩ ra được một chữ nào. Cặp mắt tôi như bị kẹt ở cổ họng rồi chạy ngược lên đầu. Tôi đưa bàn tay mình vào miệng và gặm những ngón tay. Người ta có thể thấy những dấu răng trên mu bàn tay của tôi. Răng tôi nóng lên. Máu chảy từ hai khoé miệng rỏ xuống hai vai tôi.

Gió đã xé đứt một ống tay áo của tôi. Nó là một mảng đen chấp chới, bay tung lên trong không gian.

Một người đàn ông đặt chiếc gậy của hắn tựa vào một tảng đá to. Hắn giương súng lên nhắm và bắn rơi ống tay áo ấy. Khi nó rớt xuống mặt đất trước mặt tôi nó nhuốm đầy máu. Cả đám người dự tang lễ vỗ tay.

Cánh tay tôi bị phơi trần. Tôi cảm thấy nó cứng đờ trong không khí.

Người đọc điếu văn ra hiệu. Tiếng vỗ tay ngừng lại.

Chúng ta tự hào về cộng đồng của chúng ta. Những thành tích của chúng ta đã cứu chúng ta khỏi suy sụp. Chúng ta sẽ không để chính mình bị thoá mạ, ông ta nói. Chúng ta sẽ không để chính mình bị phỉ báng. Nhân danh cộng đồng người Đức của chúng ta, cô bị kết án tử hình.

Tất cả họ đều chĩa súng vào tôi. Có một tiếng nổ dữ dội trong đầu của tôi.

Tôi ngã nhào xuống nhưng không chạm mặt đất. Tôi nằm lơ lửng trong không trung trên đầu họ. Lặng lẽ tôi đẩy những cánh cửa mở ra.

Mẹ tôi đã dọn sạch đồ đạc trong mọi căn phòng. Bây giờ có một chiếc bàn dài trong căn phòng nơi thi hài đã được bày ra. Đó là chiếc bàn của một người đồ tể. Có một chiếc đĩa màu trắng trống không và một cái bình đựng một bó hoa trắng tả tơi.

Mẹ mặc một bộ váy đen trong suốt. Bà đang cầm một con dao to. Mẹ đứng trước tấm gương và cắt đứt bím tóc xám dày của mình bằng con dao to ấy. Bà dùng cả hai bàn tay bưng bím tóc đến bàn. Bà đặt một đầu bím tóc lên chiếc đĩa .

Mẹ sẽ mặc đồ đen suốt quãng đời còn lại, bà nói.

Bà châm lửa vào một đầu bím tóc. Ngọn lửa lan từ đầu này cho đến đầu kia của cái bàn. Bím tóc cháy như một dây ngòi nổ. Ngọn lửa thè lưỡi liếm và nuốt chửng.

Ở nước Nga họ đã cạo đầu mẹ. Đó là hình phạt thấp nhất, bà nói. Mẹ đã đi lảo đảo vì đói. Ban đêm mẹ đã bò vào một cánh đồng trồng củ cải. Người canh gác có một khẩu súng. Nếu hắn trông thấy mẹ thì chắc là hắn đã giết mẹ rồi. Cánh đồng không có một tiếng xào xạc. Lúc ấy vào cuối thu, những lá cải nám đen và quăn lại vì sương muối.

Tôi không nhìn thấy Mẹ nữa. Bím tóc tiếp tục cháy. Căn phòng ngập khói.

Họ đã giết con rồi, mẹ tôi nói.

Chúng tôi không thể nhìn thấy nhau nữa, cả căn phòng ngập khói.

Thình lình bà lùa bàn tay xương xẩu của bà vào tóc tôi. Bà lay giật đầu tôi. Tôi gào thét.

Tôi đột nhiên mở mắt. Căn phòng đang quay tròn. Tôi đang nằm trong một khối cầu kết bằng những bông hoa trắng tả tơi và tôi bị nhốt trong đó.

Rồi tôi có cảm giác như toà cao ốc đồng cư này đang nghiêng xuống và trút hết mọi thứ trong bụng nó vào lòng đất.

Chuông đồng hồ báo thức reo lên. Lúc ấy là sáng thứ Bảy, năm giờ rưỡi.

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[*]Đây là một thị trấn nhỏ ở Rumania nơi người Đức di dân đến lập nghiệp, chủ yếu sống bằng nghề nông. Chính tác giả Herta Müller đã sinh ra và lớn lên trong một môi trường như thế.

[**]Runes là những nét ký tự khắc trên đá và gỗ được người gốc Germanic sử dụng từ thế kỷ thứ 3 đến 15. Đôi khi người ta xem những nét ký tự ấy có chứa đựng những quyền năng huyền thuật.

 

-------------
Dịch từ bản tiếng Anh, “The Funeral Sermon”, trong Herta Müller, Nadirs [bản dịch tiếng Anh của Sieglinde Lug] (Lincoln, NE: University of Nebraska Press, 1999) 1-5.
 

 

 

Đã đăng:

Gia đình tôi  (truyện / tuỳ bút) 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2009] ... Mẹ tôi là một người đàn bà bị câm. Bà ngoại tôi bị mù vì mắt kéo mây. Một con mắt của bà kéo mây xám, con mắt kia kéo mây xanh. Ông ngoại tôi bị bệnh sa ruột vào bìu dái. Cha tôi có một đứa con khác với một người đàn bà khác. Tôi không biết mặt người đàn bà khác và đứa trẻ khác ấy. Đứa trẻ khác ấy lớn tuổi hơn tôi, và đó là lý do tại sao người ta nói tôi là con của một người đàn ông khác... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Cuộc tắm của người Swabia  (truyện / tuỳ bút) 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2009] ... Mẹ trèo vào chậu tắm. Nước vẫn còn nóng. Xà-phòng đang nổi bọt. Mẹ kì cọ chiếc cổ cho sạch những bợn cáu xám xịt. Những bợn cáu của Mẹ trôi lềnh bềnh trên mặt nước. Chậu tắm có một quầng màu vàng. Mẹ trèo ra khỏi chậu tắm. Nước vẫn còn nóng đây này, Mẹ gọi Bố. Bố trèo vào chậu tắm. Nước âm ấm. Xà-phòng đang nổi bọt. Bố kì cọ lồng ngực cho sạch những bợn cáu xám xịt. Những bợn cáu của Bố trôi lềnh bềnh cùng những bợn cáu của Mẹ trên mặt nước. Chậu tắm có một quầng màu nâu. Bố bước ra khỏi chậu tắm. Nước vẫn còn nóng đây này, Bố kêu Bà nội... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)

 

Đọc thêm:

[NOBEL VĂN CHƯƠNG & NOBEL HOÀ BÌNH 2009] Bay Vút — tạp chí Việt ngữ liên mạng của Radio Australia, trực thuộc Australian Broadcasting Corporation (ABC) — phỏng vấn Hoàng Ngọc-Tuấn... “Một người là nhà văn, một người là nhà lãnh đạo chính trị, nhưng cả hai đều vươn lên từ bóng tối — một người từ bóng tối của sự kỳ thị chủng tộc, một người từ bóng tối của chế độ độc tài phi nhân tính. Họ cùng vươn lên từ bóng tối, nên họ cùng khát khao ánh sáng. Tôi tin rằng họ khao khát ánh sáng không chỉ cho riêng họ mà cho cả chúng ta...” (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2013