thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Bàn tay phải

 

Bản dịch của Phạm Ngọc

 

ALEXANDER SOLZHENITSYN

(1918-2008)

 
Lời người dịch
 
Truyện được viết xong năm 1960. Tác giả quay lại câu chuyện vào cuối năm 1963 khi đang viết tiểu thuyết Khu ung thư. Ngày 18-10-1965, Solzhenitsyn chuyển bản thảo cho Tổng biên tập "Thế giới mới". Sau khi đọc xong, Tvardovsky sửng sốt bảo: "Truyện rất hay nhưng kinh khủng quá, nhất trong những gì ông đã viết". Thậm chí Tvardovsky không đưa cho Ban biên tập xem bản thảo. Các tạp chí "Ngọn lửa nhỏ", "Nước Nga văn học", "Moskva" cũng từ chối, không đăng truyện này. Vậy là chỉ còn nước "xuất bản tự do" (Samizdat)! Tạp chí "Grani" tại Frankfurt đã giới thiệu với công chúng truyện ngắn lần đầu tiên vào năm 1968 trên số báo 69.
 
Phạm Ngọc dịch từ nguyên tác tiếng Nga trpng Alexander Solzhenitsyn toàn tập, 30 tập, Tập 1 — Truyện ngắn & Đoản văn, Nxb "Thời đại", Moskva 2006.

 

_____________

 

BÀN TAY PHẢI

 

Mùa đông năm ấy tôi đến Tashkent như một kẻ đang hấp hối. Phải, tôi đến đó để chết.

Thế nhưng người ta lại đưa tôi trở về với cuộc sống.

Một tháng, thêm một tháng, rồi một tháng nữa. Mùa xuân Tashkent không biết run sợ trôi qua ngoài khung cửa sổ và chuyển sang hè, khắp nơi cây cối trổ lá rậm rạp xanh mướt và tiết trời hoàn toàn ấm áp khi tôi bắt đầu bước ra ngoài đi dạo trên đôi chân còn lẩy bẩy.

Chưa dám thú nhận với bản thân là mình đang hồi phục, trong những giây phút mơ màng thoáng qua nhất, thời gian sống kéo dài thêm được tính bằng tháng chứ không phải bằng năm, tôi lò dò từng bước trên những lối nhỏ trải sỏi hay tráng nhựa của công viên, nơi mọc lên giữa những khối nhà của Viện y dược. Tôi thường phải ngồi xuống nghỉ lấy sức, và đôi khi, chứng buồn nôn do xạ trị khiến tôi phải nằm chúc đầu xuống thấp.

Tôi vừa giống, mà lại vừa không giống các bệnh nhân xung quanh: tôi có ít quyền hơn và buộc phải thu mình hơn họ. Họ có thân nhân đến thăm và sụt sùi thương cảm cảnh ngộ, mối quan tâm duy nhất, mục đích duy nhất của họ là khỏi bệnh. Còn tôi có bình phục cũng chẳng để làm gì: tôi không có lấy một người thân nào trên đời này vào mùa xuân năm ấy, khi đã bước sang tuổi ba mươi lăm. Tôi cũng chẳng có hộ chiếu trong tay, và nếu như khỏi bệnh bây giờ, tôi sẽ phải rời xa chốn xanh tươi, nhiều cây trái này để trở về hoang mạc, nơi bị lưu đày vĩnh viễn dưới sự quản thúc công khai, cứ mỗi hai tuần lại phải ra trình diện, nơi mà ban quản giáo đã phải tốn khá nhiều thời gian để xem xét liệu có nên đưa một kẻ sắp chết ra ngoài điều trị hay không.

Tôi không thể kể gì với các bệnh nhân tự do xung quanh.

Mà giả như có kể thì họ cũng chẳng tài nào hiểu được...

Nhưng được một điều, gánh trên vai cả chục năm ròng suy tư chậm rãi, tôi đã ngộ ra được một chân lí: mùi vị cuộc sống thực sự được nếm chẳng phải trong những thứ nhiều nhặn và to tát mà là trong những điều ít ỏi và vụn vặt. Đại loại như trong từng bước lò dò của đôi chân run rẩy. Trong từng hơi thở thận trọng để khỏi làm đau nhói lồng ngực. Trong từng củ khoai tây chưa bị vỡ ra vì lạnh vớt từ bát súp.

Mùa xuân ấy dày vò day dứt nhất mà cũng là đẹp nhất đời tôi.

Mọi thứ đối với tôi đều thú vị, hoặc do tôi đã quên chúng, hoặc chưa nhìn thấy bao giờ: kể cả chiếc xe đẩy bán kem; kể cả người rửa đường với cái vòi xịt; kể cả người bán hàng với những chùm củ cải dài; và nhất là chú ngựa non đi lạc trên bãi cỏ nhìn thấy qua lỗ thủng trên tường.

Ngày từng ngày, tôi đánh bạo đi xa phòng khám hơn, vòng theo công viên, chắc phải được dựng lên từ cuối thế kỉ trước, với những vật thể kiến trúc vững chãi bằng gạch mộc không tô trát. Từ lúc bình minh chan chứa ánh nắng rực rỡ của một ngày ở phương Nam đến tận hoàng hôn chìm trong ánh đèn vàng, công viên tràn ngập những hoạt động đầy sức sống. Những người khoẻ mạnh qua lại nhanh nhẹn, những người bệnh thì tới lui thong thả.

Tại một điểm nhiều lối nhỏ hội tụ vào con đường dẫn đến cổng chính hiện ra trăng trắng bức tượng lớn Stalin bằng thạch cao với nụ cười hoá đá trong bộ râu. Tiếp theo trên đường ra đến tận cổng, những bức tượng lãnh tụ khác với kích cỡ nhỏ hơn được đặt thành hàng cách đều nhau.

Rồi đến một quầy sách báo. Ở đó bán những cây bút bi và những cuốn sổ tay xinh xắn. Tuy nhiên, không phải chỉ vì túi tiền hạn hẹp, mà cái chính là vì những cuốn sổ ghi chép mà tôi từng có trong đời rốt cuộc đều rơi vào chỗ chẳng hay ho gì, cho nên tốt hơn hết là đừng có chúng.

Sát cổng là một quầy bán hoa quả và một quán trà. Bệnh nhân chúng tôi, trong bộ đồ bệnh viện kẻ sọc, không được vào quán trà, nhưng có thể thấy rõ bên trong do vách ngăn được mở. Trước đây tôi chưa từng thấy một quán trà thật sự bao giờ, với những ấm trà xanh hay trà đen pha riêng cho từng người. Trong quán có khu kiểu Âu với những chiếc bàn và khu Uzbek với sàn gỗ liền. Những người ngồi ở bàn, ăn uống vội vàng rồi để lại ít tiền lẻ trong những cái cốc rỗng và đi ra. Còn trên bục sàn có trải chiếu, dưới tấm rèm mây được căng lên trong những ngày nóng bức, người ta ngồi và nằm hàng giờ, thậm chí suốt ngày, uống hết ấm này đến ấm khác và chơi xúc xắc như thể chẳng có nhiệm vụ gì trói buộc họ cả ngày dài.

Quầy trái cây cũng phục vụ bệnh nhân, nhưng giá cả khiến một kẻ lưu đày với chút tiền còm như tôi phải dựng tóc gáy. Tôi đứng ngắm những đống mơ khô, nho khô và anh đào tươi một lúc rồi bỏ đi.

Tiếp theo là một bức tường cao, bệnh nhân không được phép ra khỏi cổng. Tiếng trống kèn của ban tang nhạc vọng qua bức tường mỗi ngày hai đến ba lần (bởi vì nghĩa trang của cái thành phố triệu dân này nằm ngay sát bên). Tiếng nhạc kéo dài chừng mươi phút cho đến khi đám ma đi qua. Chỉ còn tiếng trống vọng lại theo nhịp rời rạc. Nhịp điệu này chẳng ảnh hưởng gì đến đám đông vì đã là chuyện quá thường xuyên. Những người khỏe mạnh thi thoảng ngước nhìn rồi lại vội vã đi tiếp (họ biết rõ việc họ cần làm). Còn những bệnh nhân thì ngưng lại, lắng nghe hồi lâu, nhoài cả người ra khỏi cửa sổ phòng bệnh.

Càng cảm thấy rõ rệt sự hồi phục, càng tin chắn rằng mình sẽ sống, tôi càng buồn bã ngơ ngác nhìn quanh: tôi cảm thấy tiếc nuối khi phải rời bỏ chốn này.

Trong khu thể thao của viện, hai bóng người màu trắng đang chơi tennis. Cả đời, tôi đã từng muốn chơi môn này mà chưa bao giờ có cơ hội. Dòng sông Salar vàng đục chảy xiết rít ầm lên dưới bờ dốc đứng. Những cây phong lá đỏ vào mùa thu, những cây sồi tán lá tỏa rộng, những cây keo Nhật Bản thanh mảnh dịu dàng được trồng trong công viên. Đài phun nước bát giác bắn những tia nước bạc lấp lánh lên không trung. Cỏ non trên bãi mới tuyệt làm sao! — tươi mọng, thứ mà tôi đã quên mất từ lâu (trong trại người ta ra lệnh nhổ sạch như tiêu diệt kẻ thù, còn nơi lưu đày thì không một cọng cỏ). Chỉ cần úp sấp mặt xuống, nhẹ nhàng hít hương cỏ ngái bốc hơi dưới ánh mặt trời — thật sung sướng biết dường nào!

Không chỉ mình tôi nằm trên bãi cỏ. Đó đây các cô sinh viên y khoa ngồi gạo bài, mắt dán vào những quyển sách dầy cộp. Hoặc tranh nhau bàn tán chuyện thi cử. Hoặc đung đưa những túi xách thể thao từ trong nhà tắm của khu thể thao bước ra. Buổi tối các cô gái, trông không rõ trong những bộ váy trơn hay có diềm xếp nếp, và vì thế càng hấp dẫn hơn, dạo bước quanh đài phun nước, chân khua sỏi trên lối đi kêu lạo xạo.

Tôi thấy tiếc nuối đến thắt lòng, thương cho những con người thuộc thế hệ chúng tôi, chết cóng ở Demyansk, chết khô ở Osventsim, bị đày đọa ở Jezkazgan, trút hơi tàn ở rừng taiga, mà không bao giờ được chạm vào những cô gái này. Hay là thương cho những cô gái, không biết đến những câu chuyện mà tôi chưa bao giờ kể họ nghe.

Suốt cả ngày trên những lối trải sỏi hay tráng nhựa toàn những phụ nữ và phụ nữ — những bác sĩ trẻ, y tá, nhân viên phòng thí nghiệm, nhân viên ghi danh, phụ trách đồ vải, nhân viên phát thuốc và người nhà bệnh nhân. Họ đi qua tôi trong bộ áo khoác trắng như tuyết, nghiêm trang và trong những bộ áo váy áo sặc sỡ của người miền Nam gần như trong suốt, một số người có vẻ khá giả xoay xoay tay nắm bằng tre của những chiếc dù Trung Quốc thời trang màu vàng nắng, màu xanh, màu hồng. Mỗi người trong số họ, dù chỉ lướt qua trong một vài giây, cũng có thể thêu dệt ra được cốt chuyện về quãng đời của họ trước tôi, về sự quen biết có khả năng xảy ra (hoặc không) với tôi.

Bộ dạng của tôi trông thật thảm hại. Khuôn mặt hốc hác, hằn dấu vết những gì nếm trải: những nếp nhăn ảm đạm ở trại, nước da màu tro xám chết chóc, độc tố do bệnh tật cũng như do thuốc chữa trị gần đây càng làm gò má thêm xanh xao. Thói quen tự vệ do phản xạ tuân lệnh và che dấu bản thân khiến lưng tôi trở nên lom khom. Chiếc áo kẻ sọc như của anh hề cũn cỡn ngang bụng, chiếc quần kẻ sọc ngắn trên mắt cá chân, từ đôi giày vải mũi to bè của trại những góc xà cạp lâu ngày nâu xỉn lòi cả ra ngoài.

Người xếp hạng cuối cùng trong số những phụ nữ này cũng chẳng thèm sóng bước bên tôi! Mặc dù tôi không tự nhìn thấy bản thân mình, song cặp mắt của tôi cũng không kém thấu suốt như họ, có thể soi vào thế giới nội tâm của tôi.

Một hôm lúc chạng vạng tối, tôi đứng ở cổng chính và quan sát xung quanh. Dòng người như mọi hôm vẫn lướt qua, những chiếc dù vung vẩy, thấp thoáng những váy lụa, quần tuyt-xo với dây lưng màu sáng, những sơ-mi thêu và mũ chỏm. Những giọng nói quyện vào nhau, mua bán hoa quả, uống trà, đổ xúc xắc, — rồi bên bờ rào quán trà, một người nhỏ thó, nhếch nhác đứng dựa vào đó, trông như kẻ ăn mày, bằng một giọng nghèn nghẹn thỉnh thoảng buông lời:

— Các đồng chí... các đồng chí...

Đám đông bận rộn chẳng ai để ý đến ông ta. Tôi bước lại gần:

— Có chuyện gì đấy, người anh em?

Người đàn ông này có cái bụng còn to hơn bụng đàn bà chửa, giống một cái bao trĩu xuống, như muốn bục tung ra khỏi bộ quần áo lính bẩn thỉu. Đôi giày ống sứt đế nặng nề đầy bụi. Chiếc áo bành tô dày phanh nút với cổ áo cáu ghét và ống tay áo sờn như một gánh nặng trên vai ông ta, chẳng hợp với thời tiết chút nào. Trên đầu là chiếc mũ kếp rách rưới kiểu xưa chỉ xứng với thằng bù nhìn canh ruộng dưa.

Đôi mắt lồi lờ đờ như mắt cá.

Cố gắng lắm ông ta mới giơ lên được một bàn tay nắm chặt, và tôi lấy ra một mẩu giấy nhàu nát đẫm mồ hôi. Đó là một tờ đơn được viết bằng thứ chữ nguệch ngoạc từ một ngòi bút cào rách giấy của công dân Bobrov xin được nhập viện — nó được chứng thực bằng hai loại chữ, một đỏ một xanh. Chữ mực xanh là của Sở y tế thành phố, nêu rõ lí do từ chối. Chữ mực đỏ ra lệnh cho phòng khám của Viện y dược nhận bệnh nhân vào nội trú. Chữ mực xanh của ngày hôm qua, còn mực đỏ — hôm nay.

— À, ông cần vào khu nhận bệnh — tôi giải thích cho ông bằng một giọng oang oang như nói với người điếc — khu nhà đầu tiên. Đó, đi đến đó, nghĩa là đi thẳng qua... những bức tượng này...

Nhưng rồi tôi nhận thấy ông ta hầu như đã kiệt lực sau khi đến được đích, không còn có thể hỏi thêm điều gì, không còn lê nổi bàn chân trên con đường trải nhựa này, tay lại còn xách theo chiếc túi khoảng kí rưỡi nữa. Tôi bèn quyết định:

— Thôi được, bố già, tôi sẽ đưa ông đến đó, đi nào. Đưa túi xách cho tôi.

Lão nghe khá tốt. Với vẻ nhẹ nhõm lão đưa tôi chiếc túi và tựa lên cánh tay tôi đưa ra, dường như không nhấc chân mà lê đôi ủng trên con đường nhựa. Tôi nắm khuỷu tay lão qua lần áo bành tô đỏ ngầu bụi. Cái bụng căng phồng của lão dường như nặng hơn phần còn lại của cơ thể khiến người lão đổ về phía trước. Lão thường xuyên thở dài nặng nhọc.

Chúng tôi cứ đi như vậy, hai thằng đàn ông nhếch nhác, dọc theo lối nhỏ mà tôi đã mơ tưởng được đi dạo cùng những cô nàng đẹp nhất Tashkent. Rất lâu, chúng tôi lê bước qua những pho tượng thạch cao có khuôn mặt đờ đẫn.

Cuối cùng chúng tôi rẽ qua. Dọc đường có chiếc băng ghế với lưng dựa. Bạn đồng hành của tôi xin ngồi xuống nghỉ một lát. Tôi cũng đang buồn nôn vì đã đứng quá lâu. Chúng tôi ngồi xuống. Từ đây thấy rất rõ đài phun nước.

Trên đường đi lão lẩm bẩm với tôi vài câu gì đó, và bây giờ, sau khi lấy lại hơi thở, mới nói thêm chi tiết. Lão đăng kí hộ khẩu ở tận Ural, và toàn bộ rắc rối từ đó mà ra. Ở đâu đó gần Takhia-Tash (nơi mà theo tôi nhớ thì trước kia đã khởi công xây dựng một kênh đào vĩ đại, nhưng sau bỏ giữa chừng) lão bắt đầu bị bệnh. Tại Urgench, bệnh viện giữ lão lại cả tháng trời để hút nước từ bụng và chân ra, người ta làm bệnh trầm trọng thêm rồi cho xuất viện. Ở Charjou lão xuống tàu rồi đi Ursatyev — nhưng không đâu người ta nhận lão vào chữa trị mà bảo phải về Ural, nơi đăng kí hộ khẩu. Lão chẳng còn chút hơi sức nào để đi tàu, mà cũng hết tiền mua vé. Và giờ đây mất hết hai ngày mới đến được Tashkent.

Tôi đã không thắc mắc lão làm gì ở miền Nam và vì cớ gì lại đến đây. Bệnh tình của lão, theo giấy y tế, thì thuộc loại nan y, còn theo bộ dạng của lão thì chắc là căn bệnh cuối cùng trước khi chầu trời. Quan sát khá nhiều bệnh nhân, tôi có thể thấy rõ trong người lão chẳng còn bao sức sống. Đôi môi đã nhão ra, lời nói khó nghe, ánh mắt thì mờ đục rồi.

Thậm chí cái mũ cũng làm lão mất sức. Thật khó nhọc đưa tay lên để nhấc nó xuống đặt trên đùi. Rồi lại nhọc nhằn đưa tay lên lần nữa, lấy ống tay áo cáu bẩn quệt mồ hôi trán. Đỉnh đầu lão là một cái vòm nhẵn bóng, sau ót còn lưa thưa ít tóc không chải, bết lại vì bụi, vẫn còn giữ được màu hung hung. Không phải tuổi tác mà là bệnh tật đã đưa lão đến tình trạng thảm hại này.

Cái cổ lão, gầy trơ xương như cổ gà, bọc trong lớp da thừa chảy xệ xuống, lộ cục yết hầu ba cạnh ra phía trước.

Chẳng hiểu lấy gì mà đỡ được đầu lão lên? Chúng tôi chỉ mới vừa ngồi xuống thì đầu lão đã gập xuống, cằm tì hẳn vào ngực.

Lão cứ ngồi bất động như thế, mũ đặt trên đùi, mắt nhắm nghiền. Hình như lão quên khuấy rằng chúng tôi chỉ ngồi xuống để nghỉ đôi phút và lão còn phải đi đến phòng nhận bệnh.

Sát bên, trước mặt chúng tôi, những tia nước như sợi tơ bạc từ đài phun tung lên trời, gần như không phát ra tiếng động. Hai cô gái đi qua ở phía bên kia. Tôi dõi theo lưng họ. Một cô mặc chiếc váy màu cam, còn cô kia — màu booc-đô. Tôi thấy thích cả hai.

Ông lão ngồi cạnh trút một tiếng thở dài rõ to, xoay đầu trên ngực, nhướng cặp mí mắt vàng xám liếc lên từ phía bên:

— Không làm điếu thuốc à, đồng chí?

— Dẹp ngay ý nghĩ ấy đi, bố già ạ! — tôi la lên — Không hút thì tôi với ông may ra còn lê thêm được ít bước. Nhìn vào gương mà xem. Hút... hút cái gì! (Bản thân tôi cũng khó khăn lắm mới bỏ được thuốc cách đây một tháng.)

Lão khò khè. Và lại nhìn ngược lên tôi dưới đôi mí mắt vàng ệch tựa con chó nhìn chủ.

— À, cho tôi ba rúp được không, đồng chí!

Tôi cân nhắc, cho hay không cho. Khỏi phải nói, tôi vẫn là một thằng zek,[1] còn lão là người tự do. Tôi đã làm việc không công trong đó nhiều năm rồi. Đến khi bắt đầu được trả lương thì khấu trừ đủ thứ: nào tiền hộ tống, tiền điện, tiền chó canh, tiền quản giáo, tiền ăn.

Rút chiếc ví bằng giấy dán khỏi túi ngực của chiếc áo cũn cỡ như áo thằng hề và ngó sơ bên trong. Tôi thở dài, đưa cho ông già tờ ba rúp.

— Cảm ơn — lão khò khè. Khó nhọc lắm lão mới giơ được tay lên đỡ lấy tờ ba rúp và nhét nó vào túi, cánh tay không chút sinh lực lại rơi thõng xuống đùi. Đầu lão lại gục xuống, cằm tựa vào ngực.

Im lặng.

Lúc đó một phụ nữ đi ngang qua, theo sau là hai nữ sinh viên. Tôi thích cả ba người.

Đã nhiều năm tôi chưa được nghe giọng nói của họ, tiếng khua gót giày của họ.

— Cũng may là họ chứng thực vào đơn cho ông. Không thì ông còn phải vất vưởng ở đây hàng tuần lễ. Kiểu ở đây là thế. Khối người cũng gặp rắc rối.

Lão nâng cằm lên khỏi ngực và hướng về phía tôi. Trong mắt lão bắt đầu có chút ý thức, giọng lão run run, lời nói đã có đôi chút mạch lạc:

— Con ơi, người ta nhận lão vào viện là do lão có công lao. Lão là cựu chiến binh thời cách mạng. Này, đích thân Sergey Mironych Kirov đã bắt tay lão ở Tsaritsyn đấy nhá. Đáng lẽ lão phải có lương hưu đặc biệt ấy chứ.

Môi và má lão hơi động đậy — dấu hiệu của nụ cười kiêu hãnh thoáng qua trên khuôn mặt lâu ngày chưa cạo.

Tôi nhìn bộ dạng rách rưới, và một lần nữa toàn bộ hình hài của lão.

— Sao người ta không cấp cho ông?

— Đời là thế đấy — lão thở dài — Bây giờ người ta không công nhận. Hồ sơ lưu trữ một số bị cháy, số khác thì thất lạc. Không tìm được nhân chứng. Sergei Mironych bị ám sát rồi... Lỗi của ta thôi, không làm thêm bản sao... Chỉ có một bản chính này...

Bàn tay phải của lão — những ngón tay có các khớp sưng lên, những ngón tay cản trở nhau — lần về túi áo, thọc vào, nhưng sự sống động ngắn ngủi ấy bị cắt đứt ngay, tay lão lại rơi ra và đầu gục xuống bất động.

Mặt trời đã khuất sau những dãy nhà, cần phải đi nhanh đến khu nhận bệnh (chỉ còn khoảng trăm bước chân): chẳng bao giờ có thể dễ dàng tìm được chỗ trống trong bệnh viện.

Tôi nắm vai ông lão:

— Tỉnh lại, bố già! Ông có thấy cái cửa kia không? Thấy không? Tôi vào đó giải thích. Còn ông, nếu được, cố đi đến đó, còn không thì đợi tôi. Tôi cầm hộ túi cho.

Lão gật đầu, dường như đã hiểu.

Phòng nhận bệnh, một gian được ngăn ra bằng những tấm ván thô từ một phòng lớn xiêu vẹo, (bên trong có phòng tắm, phòng thay đồ, phòng cắt tóc...), ban ngày luôn đông nghẹt bệnh nhân chầu chực hết giờ này đến giờ khác để được nhận vào. Lạ một điều là lúc này ở đấy lặng như tờ. Tôi gõ vào ô cửa bằng ván đóng kín. Mở cửa là một nữ y tá rất trẻ, mũi nhọn và hếch như mũi giày phụ nữ, môi tô son, không phải màu đỏ, mà màu tím sẫm.

— Gì đấy? — Cô ta ngồi sau bàn, hình như đang đọc truyện gián điệp khôi hài.

Đôi mắt cô ta rất tinh nhanh.

Tôi đưa cô ta tờ đơn có ghi hai cách giải quyết và nói:

— Ông ấy đi không nổi.Tôi sẽ dìu ông ấy đến ngay.

— Không được đưa ai đến hết! — cô ta quát lớn, thậm chí không thèm liếc qua tờ giấy — Không biết nội quy à? Chúng tôi chỉ nhận bệnh từ chín giờ sáng!

Chính cô ta mới là người không biết nội quy. Tôi chui đầu và cả cánh tay qua lỗ cửa, ngăn không cho cô ta đóng sập lại. Bĩu môi dưới, nhăn mặt lại như khỉ đột và giả nói ngọng như một tên tội phạm:

— Nghe này, tiểu thư! Tôi không phải trong băng nhóm sáu tên của cô đâu.

Cô ta có vẻ e dè, dịch ghế lui vào trong phòng và nói bằng giọng cảnh giác:

— Không nhận bệnh, công dân! Chín giờ sáng.

— Cô phải đọc cái này! — tôi bảo cô ta bằng một giọng trầm không chút thiện cảm.

Cô ta đọc.

— Gì thế này! Nội quy chung, ai cũng thế thôi. Ngày mai cũng không có giường trống. Từ sáng nay đã không còn.

Cô ta thậm chí cảm thấy hài lòng khi nói sáng nay đã không còn giường trống, như muốn trêu ngươi tôi bằng việc đó.

— Nhưng người này ở xa đến, cô thấy không? Ông ta không còn chỗ mà đi.

Vì tôi đã chui ra khỏi lỗ cửa và lấy lại giọng nói rụt rè như ở trại, vẻ mặt cô ta liền trở lại đanh đá như lúc trước:

— Tất cả bệnh nhân của chúng tôi đều từ xa đến. Cho họ nằm vào đâu? Phải đợi thôi! Cứ để ông ta nghỉ trọ đâu đó!

— Cô thử bước ra ngoài xem tình trạng ông ta thế nào.

— Lại còn thế nữa? Tôi phải đi nhặt bệnh nhân vào à! Tôi đâu phải tạp vụ!

Lúc này cô ta còn hếch cái mũi lên nhiều hơn. Giọng cô ta còn bổ nhanh hơn như thể vừa được lên dây cót để trả lời.

— Vậy cô ngồi đây để làm gì?! — tôi đập bàn tay lên tấm vách gỗ khiến cho một lớp bụi trắng bay ra — Thế thì khoá cửa lại đi!

— Người ta còn chưa hỏi đến ông!! Láo xược! — cô ta lồng lên, nhảy xuống, chạy một vòng và xuất hiện từ hành lang hẹp — Ông là ai hả? Đừng có dạy đời tôi! Xe cấp cứu chở đến chúng tôi mới nhận!

Nếu như không phải đôi môi màu tím và những móng tay sơn tím thì thật ra cô ta cũng không đến nỗi nào. Cái mũi là một lợi điểm của cô. Cả đôi lông mày nữa cũng rất ấn tượng. Áo choàng trắng không cài nút ngực mở ra vì nóng, và tôi có thể thấy chiếc khăn choàng màu hồng xinh xắn và một huy hiệu đoàn thanh niên cộng sản.

— Sao cơ? Nếu như ông ta không tự đến đây mà được một xe cấp cứu nhặt ngoài đường chở đến thì cô sẽ nhận à? Có quy định như thế à?

Cô ta ném cái nhìn với vẻ bề trên lên bộ dạng thảm hại của tôi, và tôi cũng nhìn lại cô ta. Tôi đã hoàn toàn quên mất là xà cạp của tôi thòi cả ra ngoài giày. Cô ta khịt mũi, rồi lấy vẻ lãnh đạm và nói:

— Đúng, bệnh nhân. Có quy định như vậy!

Và bước vào sau bức vách ngăn.

Tôi nghe có tiếng sột soạt sau lưng. Và quay lại nhìn. Người bạn đường của tôi đang đứng ở đây. Lão đã nghe hết và đã hiểu hết. Dựa vào tường và cố lần đến chiếc băng ghế lớn dành cho khách, lão cố vẫy bàn tay phải, trong đó có chiếc ví da sờn cũ.

— Đây... — lão khó nhọc mở miệng — đây, cho cô ấy xem... để cô ấy... đây...

Tôi kịp giữ lấy lão và đỡ xuống băng ghế. Những ngón tay vô dụng của lão cố móc ra khỏi ví tờ giấy chứng nhận duy nhất còn lại, nhưng không thể nào làm được.

Tôi nhận từ tay lão tờ giấy nhàu nát được dán bồi thêm ở chỗ các nếp gấp và mở nó ra. Những dòng chữ đánh máy màu tím lượn lên lượn xuống nhấp nhô:

VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, LIÊN HIỆP LẠI!

Giấy chứng nhận

Chứng nhận đồng chí Bobrov N.K. vào năm 1921 là thành viên Đội đặc nhiệm mang tên Cách mạng Thế giới thuộc tỉnh Slavo-Obsk đã chính tay tiêu diệt nhiều bọn sâu bọ phản động còn sót lại.

Chính ủy (Kí tên)

Một con dấu bằng mực tím đã mờ.

Tôi vừa xoa ngực vừa hỏi nhỏ:

— Gì đây — Đội đặc nhiệm, phải không?

— Ừ hứ, — lão trả lời, khó khăn lắm mới giữ được cho hai mí mắt khỏi sụp xuống — đưa cô ấy xem.

Tôi nhìn tay ông lão, bàn tay phải, nhỏ nhắn với những tĩnh mạch màu nâu rộp lên và những khớp xương sưng phồng khiến lão không thể móc nổi tờ giấy ra khỏi ví. Tôi nhớ lại kiểu cách thời thượng ngày xưa: những kị sĩ nhún trên mình ngựa vung kiếm chém sả xuống kẻ địch.

Thật lạ lùng... bàn tay phải này đã từng nắm chuôi kiếm và chỉ cần một nhát vung dũng mãnh là chém phăng đầu, cổ, và cả một phần vai. Thế mà bây giờ không giữ nổi cái ví...

Tôi đến bên ô cửa con bằng gỗ dán và đẩy ra. Cô nhân viên ghi danh đang đọc cuốn truyện cười không thèm ngẩng đầu lên. Trên trang sách nhìn ngược tôi thấy hình một tay Chekist[2] vóc dáng thanh tú nhảy lên bệ cửa sổ với khẩu súng lăm lăm trong tay.

Tôi nhẹ nhàng đặt tờ giấy chứng nhận đã sờn rách lên trên trang sách, xoay gót, tay liên tục xoa ngực cho bớt buồn nôn, đi về phía cửa vào. Tôi phải nằm chúc đầu xuống ngay bây giờ.

— Sao lại quẳng giấy tờ lung tung thế này? Lấy lại ngay, bệnh nhân! — cô gái nã liên thanh qua ô cửa con sau lưng tôi.

Người cựu chiến binh sụm xuống ghế băng. Đầu và đôi vai lão dường như lún sâu vào thân người. Những ngón tay vô dụng thõng thượt. Chiếc áo bành tô không cúc cũng thế. Cái bụng tròn trướng lên đến mức khó tin đè lên chỗ gập ở đùi.

 

1960

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1]Zek: tiếng lóng để chỉ tù nhân, gần tương tự "phạm" trong tiếng Việt (tiếng Nga Zaklyuchenyi - ЗаКлюченный, viết tắt là ZK, đánh vần là zê-ka và đọc nối thành zêk).

[2]Cheka — viết tắt của Ủy ban đặc nhiệm, tên đầy đủ là Ủy ban đặc nhiệm chống phản cách mạng và phá hoại (tiếng Nga: Чрезвычaйная Ком?´ссия - ЧК, phát âm là Chê-ka) do Lenin thành lập tháng 12-1917, người đứng đầu là Dzerzhinsky — tiền thân của GPU (Cục chính trị quốc gia) và NKVD (Bộ dân ủy Nội vụ); nhân viên Cheka gọi là Chekist.

 

 

-----------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018