thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Trường hợp tại nhà ga Kochetovka

 

Bản dịch của Phạm Ngọc

 

ALEXANDER SOLZHENITSYN

(1918-2008)

 

Lời người dịch
 
“Trường hợp tại nhà ga Kochetovka”, theo lời tác giả, được viết dựa trên một trường hợp có thật tại nhà ga Kochetovka vào năm 1941 do người bạn của ông (Vlasov), khi đó làm ở Ban chỉ huy quân vận, thuật lại.
 
Vào tháng 12-1962 “Trường hợp tại nhà ga Kochetovka” được trích đăng trên báo Sự thật, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Liên Xô (vì vậy, tác phẩm này chưa lần nào bị “lên thớt” phê bình của báo chí Xô-viết, bởi vì “Sự thật” thì làm sao sai được!).
 
Lúc đầu, Ban biên tập tạp chí Thế giới mới và tác giả cũng thảo luận để đặt lại nhan đề cho truyện ngắn này. Một số nhan đề như “Chiếc mũ lưỡi trai xanh” và “Trong ca trực” được đề xuất; tuy nhiên cuối cùng tên truyện vẫn được giữ nguyên, ngoại trừ một thay đổi nhỏ: “Kochetovka”, tên thật của nhà ga, được đổi thành “Krechetovka” vì lí do tế nhị là nó trùng với tên của trưởng ban biên tập các tạp chí Thế giới mớiTháng Mười lúc đó là Kochetov; ngoài ra, tất cả các địa danh khác trong truyện đều được giữ nguyên.

 

_____________

 

TRƯỜNG HỢP TẠI NHÀ GA KOCHETOVKA

 

— A lô! Phòng điều độ phải không?

— Ừm.

— Ai đấy? Dyachikhin hả?

— Ừm.

— Đừng có “ừm” như vậy, tôi hỏi có phải Dyachikhin không?

— Chuyển các toa nước từ đường 7 sang đường 3... Phải, Dyachikhin đây!

— Đây là trung úy Zotov, sĩ quan phụ tá trực ban của chỉ huy trưởng! Các anh đang vẽ vời cái gì vậy? Tại sao đến giờ còn chưa chuyển đi Lipetsk đoàn tàu sáu trăm bảy mươi... bao nhiêu nữa nhỉ, Valia?

— Tám.

— Sáu trăm bảy mươi tám.

— Không có gì kéo.

— Là sao, không có gì là thế nào?

— Không có đầu máy. Varnakov hả? Có thấy bốn toa than trên đường 6 không? Dồn mấy toa ấy lại luôn nhé.

— Này, không có đầu máy là sao hả? Từ cửa sổ phòng tôi, thấy rõ ràng sáu cái xếp hàng dài cơ mà.

— Đó là một đoàn.

— Một đoàn là thế nào?

— Một đoàn đầu máy. Từ nghĩa địa về. Chuyển đi nơi khác.

— Được rồi, nhưng chỗ các anh vẫn còn hai đầu máy đang chuyển đường mà!

— Đồng chí trung úy! Tôi thấy có ba cái!

— Có đội trưởng đội hộ tống đứng cạnh tôi đây. Anh ta mới nhắc tôi là có ba đầu máy. Điều cho tôi một cái.

— Tôi không thể...

— Không thể nghĩa là làm sao? Các người có biết số hàng ấy quan trọng thế nào không? Không được chậm trễ một phút nào, các người...

— Chuyển lên đồi.

— ... rồi sẽ trì hoãn nửa ngày trời!

— Chưa đến nửa ngày.

— Chỗ các anh là cái gì chứ, nhà trẻ hay là phòng điều độ? Tại sao bọn trẻ con la khóc?

— Tất cả kẹt lại đây hết. Các đồng chí, tôi đã nói không biết bao nhiêu lần rồi! Các đồng chí dọn dẹp cho sạch sẽ đi. Tôi không thể chuyển đi được. Hàng của quân đội đứng đầy cả kia kìa!

— Chuyến tàu ấy chở máu dự trữ gửi đến quân y viện. Các anh phải hiểu như vậy!

— Tôi hiểu hết. Varnakov hả? Nào bây giờ thì tháo ra, rồi đến tháp nước, lấy mười nhé.

— Nghe đây! Trong vòng nửa giờ nữa, nếu không chuyển đi cho tôi, tôi sẽ báo cáo lên cấp trên! Không đùa đâu! Các anh phải chịu trách nhiệm!

— Vasil Vasilich! Đưa em ống nghe, để em...

— Tôi chuyển máy cho nhân viên điều độ quân sự đây.

— Nikolai Petrovich? Podshebyakina ở đầu dây đây. Này, ở xưởng sửa chữa các anh có gì? Một cái đầu máy SU đã sửa xong xuôi rồi à.

— Thế chứ, đồng chí trung sĩ, đến toa hộ tống đi, nếu trong bốn mươi phút nữa... Thôi được, nếu trước sáu giờ ba mươi họ chưa chuyển các đồng chí đi, hãy đến đây báo cáo.

— Rõ, đến đây báo cáo! Tôi đi được chưa ạ?

— Đi đi.

Đội trưởng đội hộ tống nhanh nhẹn quay người, bước ra, bàn tay hạ khỏi vành mũ từ bước chân đầu tiên.

Trung úy Zotov sửa lại kính, cặp mắt kính tạo vẻ nghiêm khắc cho khuôn mặt vốn dĩ không chút nghiêm khắc của anh. Anh nhìn Podshebyakina, nhân viên điều độ quân sự, trong bộ đồng phục đường sắt, những lọn tóc quăn dầy, màu bạch kim xõa xuống, trong khi cô đang nói chuyện qua ống nghe của chiếc điện thoại cổ lỗ. Anh bước ra khỏi căn phòng nhỏ của cô, để vào phòng riêng của mình, cũng nhỏ, ở góc trong cùng, tiếp theo không còn cánh cửa nào khác.

Phòng của ban chỉ huy quân vận nằm ngay góc tầng trệt. Phía trên góc tòa nhà, máng xối đã bị hỏng. Một dòng nước lớn tuôn xối xả vào bên ngoài vách tường, bị từng cơn gió giật làm đổi hướng và bắn tung tóe, khi thì vào khung cửa sổ bên trái nhìn ra sân ga, khi thì vào khung cửa sổ bên phải nhìn ra lối đi nội bộ. Sau những đợt lạnh tháng mười cuối thu, khiến cho cả sân ga phủ đầy sương vào buổi sáng, mấy ngày gần đây thời tiết trở nên ẩm ướt, và từ hôm qua mưa lạnh đổ xuống liên miên không ngớt, làm ta phải ngạc nhiên, không hiểu nước ở đâu trên trời mà có thể trút xuống lắm đến thế!

Nhưng trời mưa lại khiến nơi này trở nên trật tự: không có cảnh đám đông chen lấn xô đẩy một cách vô nghĩa, không có cảnh nhốn nháo thường xuyên của đám thường dân trên sân ga và trên các đường tàu, làm mất đi vẻ khả kính vốn dĩ và cản trở hoạt động của nhà ga. Mọi người đều tìm chỗ trú mưa, không ai lom khom bò qua gầm các toa tàu, hay trèo lên các bậc thang dẫn lên toa; dân địa phương không còn đến với những xô khoai chiên và đám hành khách của những toa chở hàng không còn len lỏi giữa những đoàn tàu, với trăm thứ bà rằn: áo trong, áo ngoài, đồ len... vắt trên vai và trên hai cánh tay như ở ngoài chợ trời. (Cái kiểu buôn bán này khiến trung úy Zotov bối rối vô cùng: cho phép thì chắc chắn là không rồi, nhưng cũng chẳng tài nào cấm nổi, bởi vì đám dân tản cư này có được cấp phát thực phẩm gì đâu).

Mưa chỉ không xua được những người đang thi hành công vụ. Qua cửa sổ, có thể thấy người lính gác đứng ở sân ga bên các kiện hàng phủ bạt, nước mưa xối xả vào người, nhưng anh ta vẫn đứng đấy chẳng buồn rũ nước đi. Trên đường số 3 đầu máy đang nối các toa chở bồn nước, người bẻ ghi khoác áo mưa dính liền chiếc mũ trùm, phất cờ ra hiệu. Người trưởng toa, dáng người thấp bé, trong bộ đồ sẫm màu, đi dọc đoàn tàu trên đường số 2, vừa đi vừa cúi xuống xem xét dưới gầm mỗi toa.

Tất cả chỉ còn là những hạt mưa rơi xiên. Trong cơn gió lạnh rít lên không ngớt, mưa đập vào nóc và vách các toa hàng, quất thẳng vào đầu máy, bổ xuống bộ khung của hơn hai chục toa tàu chỉ còn trơ những lóng sắt bị cong vặn (lớp vỏ thép bên ngoài đã bị cháy rụi vì bom, song những bộ phận chuyển động chưa bị hỏng nên chúng được kéo về hậu phương), mưa trút xuống bốn khẩu pháo không che đậy, đứng trơ giữa sân ga; hòa vào bóng tối đang phủ xuống, kéo thành một lớp màn xám trên mặt tròn màu xanh của đèn tín hiệu, và những tàn lửa như những tia chớp đỏ rực thỉnh thoảng vọt lên từ ống khói những toa hàng được cải tạo để chở người. Sân ga số 1 tráng nhựa đã sủi những bọt bong bóng do nước chưa kịp rút đi, các đường ray loang loáng trong bóng tối, những vũng dầu đọng lại, chưa kịp thấm đi, rung rinh trên dải đường sắt màu nâu sậm.

Không một tiếng động, ngoại trừ tiếng rung nhẹ của mặt đất và tiếng còi như hụt hơi của người bẻ ghi, còi tàu đã bị cấm từ những ngày đầu chiến tranh bùng nổ.

Chỉ có tiếng nước mưa rít trong ống máng đã bị bể.

Ngoài cửa sổ phía bên kia, một cây sồi non mọc ven con đường nhỏ chạy dọc tường rào nhà kho. Thân cây bị gió xoắn vặn, sũng nước, và những chiếc lá sẫm mầu cuối cùng còn sót lại đến hôm nay cũng bị gió bứt đi nốt.

Không còn thời gian đâu để đứng nhìn mãi như vậy. Đã đến lúc phải buông tấm rèm bằng giấy ngụy trang trên cửa sổ, bật đèn và ngồi làm việc. Còn nhiều việc phải làm cho kịp trước khi giao ca vào lúc 9 giờ tối.

Nhưng Zotov không buông rèm cửa sổ, mà lại bỏ chiếc mũ sĩ quan với lưỡi trai màu xanh xuống, chiếc mũ anh luôn đội trong ca trực, kể cả khi ở trong phòng làm việc. Anh bỏ kính ra và chầm chậm đưa tay dụi mắt, đôi mắt đã mệt mỏi vì việc chép lại những con số mật mã viết bằng bút chì, kí hiệu hàng hóa vận chuyển từ một bảng kê này sang một bảng kê khác. Không, không phải mệt mỏi, mà là nỗi buồn bã chán chường chất chứa trong lòng anh từ cái bóng đen của những ngày trước và khoét sâu vào tâm hồn anh.

Nỗi buồn không phải vì lo cho người vợ và đứa con sắp chào đời hiện đang ở tận Belorus, nơi đang bị quân Đức chiếm đóng. Không phải vì quá khứ bị đánh mất, bởi vì Zotov cũng chẳng có quá khứ để mà luyến tiếc. Không phải vì tài sản bị tiêu tan, anh không có tài sản và cũng chẳng bao giờ mong ước được có nó.

Theo diễn tiến của cuộc chiến tranh, Zotov cảm thấy lòng trĩu nặng đến mức muốn hét to lên thành tiếng cho vơi bớt phần nào. Không thể nào xác định được tuyến đầu mặt trận hiện đang ở đâu qua các thông cáo của Phòng Thông tin,[1] có thể tranh cãi với nhau ai đang kiểm soát thành phố Kharkov, ai đang chiếm đóng thành phố Kaluga. Tuy nhiên những người trong ngành đường sắt đều biết quá rõ là các chuyến tàu không còn đi quá thành phố Uzlovaya trên tuyến Tula nữa, và nếu đi tuyến Elets thì các chuyến tàu cùng lắm là đến Verkhovye mà thôi. Máy bay ném bom lúc thì ở đây, lúc thì chỗ khác, và tuyến đường Ryazan - Voronezh cũng bị dội bom, khiến ga Kochetovka bị vạ lây. Chừng mười ngày trước, không biết từ đâu xuất hiện hai tên lính Đức điên cuồng cưỡi mô tô chạy lạc tới đây và bắn xối xả vào ga Kochetovka bằng súng máy. Một tên bị hạ, tên kia bỏ chạy, nhưng vụ nổ súng đã làm cho nhà ga bị thiệt hại nặng nề, vì viên sĩ quan đội trưởng đội đặc nhiệm, có nhiệm vụ cho nổ mìn trong trường hợp rút quân, đã làm nổ khối thuốc đặt sẵn từ trước, phá tung cả tháp nước. Vì thế, bây giờ người ta phải điều đến một chuyến tàu để sửa chữa, làm việc ở đây đến hôm nay là hôm thứ ba rồi.

Tuy nhiên, vấn đề không phải ở chỗ Kochetovka, mà là tại sao chiến tranh lại xảy ra như vậy? Không những không có cách mạng nổ ra khắp châu Âu, không những chúng ta không vào cuộc với cái giá rẻ mạt là một ít máu đổ ra để chống lại liên minh xâm lược, mà giờ đây chúng ta bị lún sâu vào cuộc chiến! — liệu còn kéo dài bao lâu nữa? Dù làm gì vào ban ngày, hoặc nằm trong giường vào ban đêm, một ý nghĩ lúc nào cũng nung nấu: “còn kéo dài đến bao lâu?”. Và dù ở nơi làm việc, hay ngủ ở nhà, bao giờ anh cũng tỉnh giấc cùng với chương trình phát thanh lúc 6 giờ sáng, mỏi mòn với hi vọng là cuối cùng hôm nay cũng được nghe thông báo tin chiến thắng, nhưng từ cái loa phóng thanh đen ngòm ấy vẫn chỉ đổ ra những lời rập khuôn tình hình chiến sự tại Vyazma và Volokolamsk, và như có gọng kìm bóp nghẹt lấy tim: “nếu như Moskva cũng đầu hàng nốt thì sao?”. Tất nhiên là không dám hỏi lớn (như thế rất nguy hiểm), anh còn cảm thấy sợ hãi không dám tự đặt thầm cho mình câu hỏi này trong đầu óc, suốt ngày anh chỉ nghĩ đến việc ấy và phải cố gắng không nghĩ đến nó.

Tuy nhiên, câu hỏi u ám ấy còn chưa phải là câu hỏi cuối cùng tệ hại nhất. Moskva đầu hàng vẫn còn chưa phải là tai họa lớn nhất. Moskva đã từng thất thủ vào tay Napoleon. Một điều khác còn trăn trở dằn vặt hơn: sau đấy thì sao? và nếu như... đến tận Ural?

Vasia Zotov cảm thấy chỉ cần một ý nghĩ như vậy thoáng qua trong đầu thôi cũng đã là tội lỗi lắm rồi. Như vậy là báng bổ, là xúc phạm vị Cha già, người Thầy vĩ đại, toàn năng, đại trí tuệ, người chỉ cần ngồi một chỗ mà bao giờ cũng nhìn thấy trước hết thảy mọi việc, cũng có ngay biện pháp cần thiết và không đời nào để chuyện ấy xảy ra.

Nhưng các nhân viên đường sắt từ Moskva, những người từng ở đó hồi giữa tháng Mười đều kể lại những chuyện khó lòng tin được về việc trốn chạy của lãnh đạo nhà máy, về việc đập phá và vét sạch các két sắt hay các cửa hàng; và sự đau khổ âm thầm đang bóp nghẹt trái tim trung úy Zotov.

Cách đây chưa lâu, trên đường tới đây, Zotov có dừng lại hai ngày ở trại huấn luyện sĩ quan dự bị. Ở đó, vào một buổi tối sinh hoạt tự do ngoại khóa, một tay trung úy gầy gò, gương mặt xanh xao, tóc rối bù đã bước ra đọc ít câu thơ của chính anh ta, những câu thơ chưa qua kiểm duyệt bao giờ, rất thẳng thắn. Vasia ngay lúc đó chẳng bao giờ nghĩ rằng mình sẽ nhớ nổi những câu thơ ấy, nhưng sau này những câu thơ ấy tự nhiên hiện ra mồn một trong đầu anh. Và giờ đây, dù đi trong ga Kochetovka, hay trên tàu đến ban chỉ huy quân sự Michurinsk, hay trên xe đến Xô-viết nông thôn, nơi anh được giao nhiệm vụ thực hiện khóa huấn luyện quân sự cho đám thiếu niên và các thương binh, lúc nào Zotov cũng lẩm nhẩm lại những câu thơ ấy, cứ y như là của chính mình:

Xóm làng ngút lửa, khói ngập thị thành
Đốt cháy tim ta ám ảnh cực hình
Ôi! biết đến bao giờ, biết đến bao giờ?
Ta chặn đứng bước quân thù tiến nhanh

Và còn thế này:

Nếu sự nghiệp Lenin gây dựng bỗng sụp đổ, biến đi
Cuộc sống của ta sẽ còn nghĩa lí gì?

Khi chiến tranh bùng nổ, chính Zotov cũng chẳng quan tâm gì đến sự sống còn của bản thân. Cuộc sống nhỏ bé của anh chỉ có ý nghĩa khi anh có thể làm được điều gì cống hiến cho cách mạng. Mặc dù anh đã tha thiết xin được ra tuyến đầu lửa đạn, nhưng cuối cùng số phận vẫn bị dính liền với ban chỉ huy quân vận.

Cuộc đời sẽ còn ý nghĩa gì nếu chỉ biết tìm cách sống cho riêng mình. Không nhất thiết phải tìm cách sống sót chỉ vì người vợ và đứa con sắp ra đời của anh. Nếu như quân Đức từ các ngả tràn đến hồ Baikal, và nếu như Zotov còn sống sót nhờ một phép màu, thì anh sẽ vượt đường bộ theo ngả Kyakhta để qua Trung Quốc, hay qua Ấn Độ, hay vượt đại dương, với một mục đích duy nhất là tìm đến một đơn vị chiến đấu nào đấy rồi trở về Liên Xô, trở về châu Âu với vũ khí trong tay để tiếp tục chiến đấu.

Anh vẫn đứng trong bóng tối, ngoài cửa sổ mưa vẫn đổ, nước trong ống máng vẫn xối xả, gió vẫn giật từng cơn, miệng vẫn lẩm nhẩm bài thơ của anh trung úy nọ.

Bóng tối dầy đặc trong phòng càng làm nổi bật cánh cửa đỏ rực màu mận chín của lò sưởi, và ánh đèn vàng tản mác lọt qua ô kính phía trên khung cửa từ phòng bên cạnh, nơi nhân viên điều độ quân sự đang ngồi làm việc.

Nhân viên điều độ quân sự, mặc dù không phải là cấp dưới trực tiếp của sĩ quan phụ tá trực ban, nhưng cô không thể thực hiện công việc mà không có ông này, bởi vì cô không biết cả nội dung lẫn mục đích của hàng gửi, mà chỉ biết mã hiệu các toa tàu chở hàng ấy. Bà Frosya, người làm công việc kiểm kê các toa hàng, sẽ chuyển các con số ấy đến cho cô. Bà ta vừa bước vào phòng, chân dậm mạnh xuống sàn.

— Ối trời, mưa gì là mưa, sũng nước là nước! — bà than thở — Mưa khiếp quá! Kiểu này còn lâu mới tạnh!

— Này cô Frosya, mưa thì mưa, chứ mã số chuyến bảy trăm sáu lăm vẫn phải ghi đầy đủ cả đấy! — Valia Podshebyakina nói.

— Được mà, cô sẽ ghi, đưa cô cái đèn để thắp nào! Cánh cửa giữa hai căn phòng mỏng manh và không khép kín, nên Zotov nghe rõ mồn một hai người nói chuyện với nhau.

— May quá, cô xoay được than rồi, — bà Frosya bảo — bây giờ thì không sợ gì nữa, cô sẽ giữ cho các mầm khoai sống được. À, cháu có biết bà Dashka Malentyeva không, bà ấy còn chưa đào khoai đấy. Bây giờ thì tha hồ ngụp lặn trong bùn mà bới.

— Cô bảo, sương giá có xuống sớm không chứ. Lạnh thế này.

— Mùa đông đến sớm. Ôi thời buổi chiến tranh này và mùa đông đến sớm... Cháu đào được nhiều khoai không?

Zotov thở dài và với tay buông tấm rèm trên cửa sổ, anh cẩn thận đẩy tấm rèm sát vào khung cửa để nó khỏi lay động kêu phần phật.

Đây là điều anh không sao hiểu nổi, và làm anh rất buồn lòng, thậm chí cảm thấy cô đơn là khác. Tất cả những người làm việc chung quanh anh xem ra cũng nghe các bản tin với vẻ rầu rĩ rồi lặng lẽ rời loa phóng thanh, lòng cũng trĩu nặng một nỗi đau âm thầm như anh. Nhưng Zotov nhận thấy có điều khác biệt: những người quanh anh dường như sống bằng một điều gì khác, chứ không phải vì những tin tức từ mặt trận — họ đào khoai, vắt sữa bò, cưa củi, dán lại kính cửa. Và họ nói chuyện với nhau về những công việc ấy, và quan tâm đến những việc ấy còn nhiều hơn là tin tức từ mặt trận.

Bà già ngốc nghếch! Lấy được ít than mà bây giờ thì “không sợ gì nữa”. Chắc xe tăng của tướng Đức Guderian cũng không thèm sợ?

Gió rung lắc cái cây nhỏ ở cạnh nhà kho đập vào cánh cửa sổ suýt làm bể kính.

Zotov hạ tấm rèm cuối cùng xuống, rồi bật đèn. Căn phòng sạch sẽ, mặc dù không trang bị nhiều đồ đạc, trở nên ấm áp dễ chịu, khiến tâm trạng của người ta trở nên phấn chấn hơn.

Bàn giấy của sĩ quan trực ban đặt chính giữa phòng, ngay dưới ngọn đèn, đằng sau bàn là lò sưởi, két sắt đựng tài liệu, gần cửa sổ kê một trường kỉ ba chỗ ngồi, kiểu cổ, bằng gỗ sồi, có lưng tựa (trên lưng ghế có tên tuyến đường sắt khắc bằng những chữ lớn). Có thể ngủ đêm trên chiếc trường kỉ này, dù rằng hiếm khi nào phải ngủ lại sau khi làm việc. Trong phòng còn có hai chiếc ghế lớn. Giữa hai khung cửa sổ là tấm ảnh màu chân dung Kaganovich[2] trong bộ đồng phục đường sắt. Một tấm bản đồ các tuyến đường trước kia được treo ở đấy, nhưng ông đại úy trưởng ban của nhà ga đã ra lệnh gỡ nó xuống; vì lẽ, trong số những người vào phòng này, ngộ nhỡ có kẻ địch trà trộn vào, chúng có thể định hướng được tuyến đường nào sẽ dẫn tới đâu.

— Cô mới đổi được mấy đôi tất đấy,— bà Frosya khoe khoang trong căn phòng bên cạnh — phải mất năm cái bánh khoai chiên mới đổi được đôi tất lụa. Từ giờ cho đến lúc hết chiến tranh, có lẽ sẽ không còn tất nữa đâu. Cháu phải bảo mẹ cháu mau lên mới được, làm ít bánh khoai đi, rồi mau mau đem ra đó, chỗ mấy toa chở hàng ấy. Họ sẽ vồ lấy ngay. Hôm trước bà Grunka Mostryukova vớ được cái áo ngủ lạ lắm, khoét hở ở mấy “chỗ ấy”, nhìn cười bể bụng! Các bà xúm đến nhà bà ấy xem mặc thử, bò lăn ra mà cười... Có thể kiếm được xà phòng ở chỗ họ, rẻ hơn nơi khác nhiều. Xà phòng giờ cũng khan hiếm rồi, không có mà mua đâu. Bảo mẹ cháu ngay đi, đừng có ngồi đó mà ngáp.

— Cháu chẳng biết đâu, cô Frosya...

— Gì, bộ cháu không cần bít tất à?

— Rất cần là khác, có điều cháu thấy kiếm chác ở chỗ mấy người tản cư nó thế nào ấy...

— Có phải mua đồ ăn cắp đâu mà thế nào! Bọn họ mang theo đủ thứ: vải vóc, cả bộ đồ vía, xà phòng, cứ như đem đi hội chợ. Một số còn khảnh ăn lắm cơ — gà rán mới đổi, không thì thôi! Dân tình còn bảo, có người tiền cứ gọi là bó cả xấp, nhét đầy va li, như cướp được của ngân hàng! Nhưng mình cần gì tiền, tiền thì họ cứ việc giữ lấy.

— Thế còn mấy người ở trọ nhà cô...

— Cháu đừng so sánh, có phải ai cũng như ai đâu. Họ đến từ Kiev, chỉ có nghèo và đói cõng trên lưng thôi, lúc ra đi như thế nào thì đến đây vẫn như thế nấy, ngạc nhiên là sao họ đến đây được. Polinka đã thu xếp được việc làm ở bưu điện, lương không đến nỗi, nhưng ăn thua gì? Có hôm cô mở hầm thực phẩm ở nhà cho cô ấy xem, rồi bảo: “Đấy, khoai đấy, dưa bắp cải đấy, cứ thoải mái, tiền nhà tôi cũng chả cần đâu!”. Cháu xem, Valyuta, cô lúc nào cũng thương người nghèo, còn bọn giàu thì mặc xác chúng chứ!

Trên bàn làm việc của Zotov có hai máy điện thoại — một để gọi đường dài, thuộc loại cổ, vòng quay số gắn trên hộp gỗ màu vàng, giống như cái máy của nhân viên điều độ quân sự, cái thứ hai là máy nội bộ, kiểu như máy bộ đàm khi hành quân, nối thẳng với phòng làm việc của ông đại úy và kho quân nhu của nhà ga. Binh lính gác kho quân nhu là lực lượng quân sự duy nhất của ban chỉ huy quân vận Kochetovka. Mặc dù nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ hàng hóa quân sự, nhưng họ cũng làm đủ thứ việc như đốt lò sưởi, dọn phòng, một xô chứa những hòn than to và lấp lánh đặt trước lò sưởi để dự trữ.

Chuông điện thoại đường dài reo vang. Vượt qua phút chán nản yếu đuối nhất thời, Zotov bước nhanh lại chỗ điện thoại, một tay nhấc ống nghe, tay kia đội chiếc mũ lên, hét vào ống nói. Khi nói chuyện điện thoại đường dài, bao giờ anh cũng gào to, một phần vì tín hiệu đường truyền không tốt, nghe không rõ, nhưng phần lớn là do thói quen.

Người ta gọi đến từ ga Bogoyavlenskaya để yêu cầu anh xác nhận đã nhận được và chưa nhận được những chỉ thị nào. Các chỉ thị này là những chỉ thị được mã hóa do ban chỉ huy quân vận ở nhà ga trước gửi tới bằng điện tín cho biết những hàng hóa nào sẽ được gửi đến đâu. Mới chỉ một giờ trước đây, Zotov đã trao một số chỉ thị như vậy cho cô điện tín viên để gửi đi và nhận từ cô ta một số khác. Cần phải nhanh chóng nghiên cứu những chỉ thị nhận được để phân loại hàng hóa, đưa chúng vào cùng một nhóm để gửi đến những ga cần thiết, và lệnh cho nhân viên điều độ quân sự toa tàu nào phải nối với đoàn tàu nào. Sau đó soạn thảo và gửi các chỉ thị mới đến ga tiếp theo, giữ lại một bản sao và kẹp vào hồ sơ lưu.

Đặt ống nghe xuống, Zotov vội ngồi vào ghế, đôi mắt cận thị nghiêng xuống bàn, cắm cúi vào xấp chỉ thị.

Nhưng ở phòng bên cạnh tiếng ồn ào lại tiếp tục quấy rầy anh. Có người bước vào, dậm mạnh đôi bốt, ông ta buông thịch cái túi đựng ba thứ sắt thép lỉnh kỉnh bên trong xuống sàn. Bà Frosya hỏi xem mưa đã tạnh chưa. Người đàn ông lẩm bẩm gì đó, rồi ngồi xuống.

(Thật sự, nước trong ống máng bị bể không còn rít thành tiếng nữa, nhưng gió thì mạnh lên và đập ầm ầm vào cửa sổ).

— Ông nói sao hả ông lão? — Valia Podshebyankina la lên.

— Trời rét cóng rồi — lão già đáp lại bằng một giọng đặc quánh.

— Ông nghe đúng đấy chứ, Gavrila Nikitich? — bà Frosya hỏi lớn.

— Đúng hẳn chứ lị, — lão già trả lời — như tiếng ù ù trong lỗ tai đây này!

— Ông kiểm tra các toa ra sao hả ông ngoại? Phải gõ vào để kiểm tra chứ.

— Thấy rõ rành rồi, cần gì.

— Valia, cháu không biết ông lão này rồi, người Kochetovka của ta đó, ông Kordubailo. Có bao nhiêu thợ cả sửa toa ở các nhà ga, thì thảy đều là học trò của lão đấy. Lão đã nghỉ hưu trước chiến tranh cả mười năm rồi, bây giờ lại mò ra.

Và bà Frosya lại bắt đầu buôn chuyện. Câu chuyện tào lao của họ khiến Zotov bực mình, anh đã định đứng dậy đuổi bà ta đi, thì ở phòng bên họ kháo nhau về vụ rắc rối ngày hôm qua với đoàn tàu chở người từng trong vòng vây của quân Đức, có an ninh hộ tống.

Zotov được nghe người đổi ca với mình, cũng là sĩ quan phụ tá trực ban như anh cho biết về vụ này. Hôm qua anh ta phải đích thân giải quyết sự vụ, bởi vì ga Kochetovka không có đội cảnh sát riêng. Sáng hôm qua, cùng một lúc có hai đoàn tàu tới ga: một đoàn ba mươi toa chở đầy người từ Shigry qua ngả Otrozhka với một đội hộ tống chỉ có năm nhân viên an ninh NKVD, tất nhiên năm người này thì chẳng thể nào xoay xở nổi với ba mươi toa tàu lèn đầy những con người tuyệt vọng. Đoàn tàu kia từ Rtishev, chở toàn bột mì. Số bột chứa trong bao tải, một phần chất trong các toa kín, một phần chất trên các “toa sơ mi”. Đám người kia thấy các toa hàng là biết gì ngay rồi, họ bèn tấn công các “toa sơ mi”, leo lên trên, dùng dao rạch tung các bao bột, trút vào gàu mên, họ còn cởi áo ra làm bao mà đựng. Đoàn tàu chở bột chỉ có hai lính canh, một ở đầu, một ở đuôi. Tay lính canh đầu tàu, trông chỉ nhỉnh hơn một đứa thiếu niên, hô hoán mấy tiếng để cản đám người cướp bột; chẳng ai thèm lí gì đến hắn, đội hộ tống người cũng mặc kệ chẳng đến giúp. Thế là hắn chĩa khẩu súng trường lên, hắn chỉ nổ mỗi một phát đạn duy nhất, mà lại ghim ngay vào đầu một người cướp bột đứng trên toa tàu.

Zotov vẫn lắng tai nghe câu chuyện của họ, họ nói không đúng chắc hẳn là do không hiểu. Anh không kiềm chế được, phải đi qua giải thích cho họ hiểu. Đẩy cửa ra và đứng ngay ngưỡng cửa, anh giương cặp mắt kính tròn ngó vào cả ba người.

Valia thân hình mảnh dẻ, lúc ấy đang ngồi tại bàn bên phải, trước một đống bảng kê và lịch trình gồm những ô vuông tô màu khác nhau.

Bà Frosya ngồi trên chiếc ghế dài kê dọc theo cửa sổ với rèm che bằng giấy màu xanh. Bà là một phụ nữ đứng tuổi, vóc người to lớn vững chắc, khuôn mặt lộ vẻ quyền uy, thường thấy ở những người đàn bà Nga giỏi xoay xở mọi việc, nơi công sở cũng như ở nhà. Chiếc áo mưa bằng vải dầu màu xanh cứt ngựa sũng nước treo trên tường, bà ta ngồi vẫn mang đôi bốt ướt, mặc chiếc bành tô ngắn dân sự màu đen đã sờn, và đang loay hoay vặn lại tim chiếc đèn bão xách tay hình vuông.

Trên cánh cửa ra vào dán một mảnh giấy màu hồng in dòng chữ: “Coi chừng bệnh sốt phát ban!”, khẩu hiệu này dán khắp nơi tại nhà ga Kochetovka. Tờ giấy để in khẩu hiệu màu hồng một cách bệnh hoạn như chính những nốt phát ban, hay như những khung xương bằng sắt cháy đỏ của các toa tàu bị dội bom.

Gần cửa ra vào, lão Kordubailo ngồi bệt xuống sàn, chếch về phía lò sưởi để khỏi cản lối đi, lưng dựa hẳn vào tường. Chiếc túi da cũ kĩ bên trong có các đồ nghề dụng cụ nặng nề, đặt sát bên lão để khỏi choán lối đi, hai tay áo lão dính dầu nhớt be bét. Rõ ràng từ lúc mới vào, ngồi xuống sàn như thế nào, thì đến bấy giờ lão vẫn ngồi y như vậy, chẳng thèm rũ nước mà cũng chẳng cởi bỏ đôi bốt lẫn áo mưa, khiến nước trên người lão chảy xuống sàn đọng thành vũng. Một ngọn đèn bão, giống như đèn của bà Frosya, chưa thắp sáng, đặt trên sàn giữa hai đầu gối gập lại của lão. Bên trong áo mưa, lão mặc một chiếc áo khoác thủy thủ màu đen bẩn thỉu, chiếc thắt lưng nâu quanh bụng lão cũng bẩn như chiếc áo. Mũ trùm của áo mưa hất ngược ra sau, chiếc mũ nhân viên đường sắt cũ kĩ đội chắc chắn trên cái đầu bù xù của lão. Vành lưỡi trai của chiếc mũ làm cho vùng mắt lão tối lại, ánh đèn chỉ đủ soi rõ chiếc mũi cà chua và cặp môi dầy đang ngậm một điếu thuốc loa kèn quấn bằng giấy báo và nhả khói khét lẹt. Hàm râu lởm chởm vẫn còn giữ được màu đen dù có ít sợi bạc lẫn vào.

— Không bắn thì anh ta còn biết làm gì hơn? — Valia vừa gõ gõ bút chì xuống mặt bàn, vừa nói — Anh ta đang làm nhiệm vụ, đang canh gác!

— Thì đúng thế! — lão gật đầu, tay gạt một mẩu tàn thuốc lớn, đỏ rực xuống sàn, cà cà đầu thuốc vào nắp chiếc đèn — Đúng chứ có sai đâu. Mọi người, ai chẳng muốn được ăn...

— Ông nói như vậy là thế nào? — cô gái cau mày — Mọi người là ai?

— Là cả ta lẫn cháu, chẳng hạn! — Kordubailo thở dài.

— Ông lẫn lộn hết cả rồi, ông ngoại à! Ông bảo họ đói chắc? Họ được cấp khẩu phần ăn mà. Ông nghĩ là nhà nước chở họ đi như vậy mà không cấp khẩu phần sao?

— Được rồi, cháu đúng, — lão đồng ý, lại thêm một mẩu tàn đỏ lửa nữa rụng xuống, lần này rơi xuống đầu gối và áo khoác của lão.

— Kìa kìa, cháy bây giờ, Gavrila Nikitich! — bà Frosya cảnh báo.

Ông lão thản nhiên nhìn mẩu tàn đỏ tắt dần trên chiếc quần sẫm, bẩn thỉu và ướt nhẹp của lão, không buồn phủi đi, đến khi tàn thuốc tắt hẳn lão mới khẽ ngẩng cái đầu với mái tóc bạc bù xù, vẫn sùm sụp chiếc mũ:

— Này, các cô có bao giờ ăn bột sống khuấy với nước lã chưa?

— Sao lại bột sống? — bà Frosya ngạc nhiên — cho nước vào, nhào lên, rồi nướng mà ăn chứ.

Ông lão chẹp chẹp đôi môi dầy nhợt nhạt, không trả lời ngay — những lời lão nói chẳng khi nào phát ra liền, không đi thẳng vào điều muốn nói, mà dường như còn phải chống gậy lò dò từng bước từ cái nơi nó xuất phát:

— Vậy là, các người chưa biết đói là cái gì rồi, các nàng ơi!

Trung úy Zotov bước qua ngưỡng cửa, xen vào:

— Này ông ngoại, ông không hiểu lời thề trung thành là cái gì hả?

Giọng nói của Zotov đặc sệt giọng miền Volga.

Ông lão nhìn trung úy với vẻ rầu rầu. Ông lão không lấy gì làm cao lớn, nhưng chân ông xỏ đôi bốt khổng lồ, nặng như cùm, sũng nước, đế giầy dính choe choét đất sét.

— Lạ gì! — lão lầm bầm — Chính lão đã năm lần thề trung thành rồi đấy!

— Ông thề với ai? Sa hoàng Nikolai hả?

Lão già lắc đầu:

— Trước nữa.

— Hả? Alexander Đệ Tam chắc?

Lão già chép miệng một cách chán chường, rồi tiếp tục hút thuốc.

— Đúng thế! Còn bây giờ thì thề với nhân dân. Có gì khác chăng?

Lão lại làm rơi tàn thuốc xuống đầu gối.

— Thế bột mì là của ai? Không phải của nhân dân sao? — Valia hất mái tóc lòa xòa trước trán ra sau, nóng nảy — Bột ấy chở đi đâu? Cho bọn Đức chắc?

— Đúng thế, — vẫn cái giọng bâng quơ như chẳng hề muốn tranh luận — Còn đám người ấy là bọn Đức phỏng, nhân dân ta cả mà.

Hút hết điếu thuốc loa kèn, lão dụi mẩu tàn vào nắp chiếc đèn.

— Ông lão này lẩm cẩm quá rồi! — Zotov giọng khó chịu — Ông bảo luật pháp với trật tự là thế nào? Nếu ai cũng thích gì cứ lấy thì còn ra thể thống gì, tôi thích tôi lấy, lão thích lão lấy, thử hỏi chúng ta có thể thắng được cuộc chiến này không?

— Sao họ dám rạch tung các bao bột ra vậy? — Valia bất mãn — Ai lại thế bao giờ? Thế mà là đồng bào của ta được sao?

— Bần cùng sinh đạo tặc, chẳng qua cái đói làm mờ con mắt thôi! — Kordubailo vừa đưa tay quệt mũi vừa đáp.

— Đói mà phí của như vậy? Làm cho bột đổ hết cả xuống đường? — bà Frosya bất bình — Xé tan rồi vung vãi như thế, đồng chí trung úy! Số bột rơi vãi ấy nuôi được bao nhiêu là trẻ con!

— Phải, đúng rồi — lão già đáp — Mà mưa thế này thì số bột còn lại thể nào cũng bị hỏng nốt cho mà xem!

— Ôi dào! Nói với lão chỉ phí lời! — Zotov có vẻ tự trách mình sao lại tham gia vào câu chuyện chẳng ra đâu vào với đâu, anh gắt lên — Thôi đừng ồn ào nữa, để tôi còn làm việc!

Bà Frosya đã làm sạch tim đèn và châm lửa vào bấc. Bà đứng dậy, giơ tay với cái áo mưa, miệng nói:

— Này Valyuta, cho cô mượn cái bút chì nào, cô đến toa bảy trăm sáu lăm để ghi đây.

Zotov quay về phòng mình.

Vụ rắc rối hôm qua có thể đã kết thúc một cách tệ hại hơn nhiều. Đám người ấy thấy đồng đội của mình bị bắn gục, liền quẳng hết cả bột, gào lên rồi nhảy xổ vào tay lính gác thiếu niên. Họ tước súng của anh ta, anh ta đứng đờ ra không chống cự, rồi họ xúm vào nện anh ta. Nếu không có tay lính gác ở ga chạy đến làm ra vẻ bắt giữ anh lính canh rồi giải đi, thì có lẽ đám người ấy xé nát anh ta ra mất.

Từ đó, mỗi khi có chuyến tàu nào chở đám người ấy dừng lại ở ga, thì ban chỉ huy quân vận vội vàng điều động đầu kéo để chuyển họ đi tiếp cho thật sớm. Đêm qua có một đoàn tàu mã hiệu 245413 từ Pavelets đi Archeda, Zotov nhận đoàn tàu rồi gấp rút cho lên đường ngay. Đoàn tàu chỉ ngừng lại ở ga hai mươi phút, đám người ấy còn đang ngủ nên không ra ngoài. Đám người ấy, khi tập trung thành số đông, cũng đáng sợ lắm. Họ không còn là một đơn vị quân đội, họ không còn vũ khí, nhưng họ còn cái cảm giác như vẫn đang trong quân ngũ ngày hôm qua, bởi vì họ chính là những người anh em hồi tháng Bảy còn chiến đấu ở Bobruisk, hay hồi tháng Tám ở Kiev, hay hồi tháng Chín ở Oriol.

Zotov cảm thấy e ngại trước những con người ấy, cái cảm giác y hệt như của anh lính gác trẻ khi buông súng cho đám đông mà không dám bắn thêm phát thứ hai. Zotov thấy xấu hổ vì chức vụ sĩ quan hậu cần của mình. Anh ganh tị với họ và thậm chí sẵn sàng can dự vào những việc đáng chê trách như họ, cốt chỉ để cảm thấy sau lưng mình là trận đánh, là những làn đạn, là vượt tuyến lửa.

Các bạn cùng khóa, tất cả các bạn hữu của Vasia Zotov lúc này đang ở mặt trận.

Còn anh thì lại ở đây...

Như vậy cần phải làm việc tận tụy hơn nữa mới xứng đáng! Phải làm việc với tinh thần không những chỉ hoàn thành tốt ca trực, mọi việc đâu ra đấy, mà còn phải làm thêm nhiều việc khác nữa, sao cho có thể hoàn thành vượt mức với chất lượng công việc tốt hơn trong những ngày này. Sắp đến ngày kỉ niệm lần thứ 24 Cách mạng tháng Mười, ngày lễ yêu thích trong năm, một ngày vui sướng bất kể thời tiết như thế nào; nhưng sao lần này tâm hồn anh lại ray rứt vậy!

Ngoài những công việc thường lệ, Zotov còn mất thêm cả tuần để làm thêm việc khác bắt đầu từ ca trực của anh. Trong một cuộc không kích nhà ga, quân Đức đã ném bom trúng đoàn tàu chuyên chở hàng hóa quân đội, trong đó có thực phẩm. Nếu cuộc không kích ấy hủy diệt trọn đoàn tàu, thì mọi việc đã kết thúc. Nhưng may thay, phần lớn các hàng hóa chưa bị thiệt hại. Và vì thế mà giờ đây Zotov nhận được lệnh lập bốn biên bản đầy đủ danh sách: hàng hóa bị hư hại hoàn toàn 100% (phải lập danh sách gửi về nơi cấp phát để trang bị mới); hàng hóa bị hư hại từ 40 đến 80% (việc tái sử dụng sẽ được quyết định sau); hàng hóa bị hư hại từ 10 đến 40% (được tiếp tục chuyển đến nơi quy định, kèm theo giải trình đầy đủ, hoặc thay thế một phần); cuối cùng là hàng hóa còn nguyên vẹn. Điều làm cho công việc trở nên phức tạp là mặc dù tất cả hàng hóa của chuyến tàu bị ném bom đều được tạm nhập kho, nhưng không thể hoàn tất việc ấy trong chốc lát, thêm vào đó có nhiều người lạ lởn vởn quanh nhà ga, có thể xảy ra tình trạng mất cắp. Ngoài ra, việc xác định tỉ lệ phần trăm hư hại đòi hỏi phải có chuyên môn giám định (phải cử các chuyên viên từ Michurinsk và Voronezh đến) và việc xê dịch sắp xếp lại các kiện hàng trong nhà kho phát sinh rất nhiều mà nhân lực thì thiếu hụt trầm trọng.

Ném bom thì ngốc tới đâu cũng làm được, chứ khắc phục hậu quả ném bom thì còn khướt!

Bản thân Zotov lại yêu thích sự tỉ mỉ chính xác, ra ngô ra khoai, trong công việc, cho nên anh đã làm cật lực cho xong những biên bản danh mục hàng hóa, anh có thể làm trong hôm nay và dành cả tuần để suy nghĩ và bổ sung chỉnh sửa hoàn tất.

Thậm chí nếu đây có phải là công việc hàng ngày thì Zotov vẫn còn bắt mình phải để mắt đến những công việc khác nữa. Zotov là một người được ăn học đào tạo bài bản, ưa chuộng tính hệ thống, làm công việc ở bộ phận chỉ huy nên tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Anh nhận thức được rất rõ ràng những yếu kém thiếu sót của kế hoạch động viên trong thời kì chiến tranh, những bất cập trong tổ chức theo dõi hàng hóa quân sự, thấy được những biện pháp cải tiến có thể áp dụng cho công tác quân vận. Đấy chẳng phải là trách nhiệm lương tâm của anh hay sao — quan sát, ghi chép, cân nhắc, ước lượng tất cả, rồi lập bản tường trình gửi về Bộ Quốc phòng? Giả sử công trình của anh không kịp sử dụng trong cuộc chiến này, biết đâu nó sẽ hữu ích cho cuộc chiến về sau.

Và để làm công việc này cần phải có thời gian và nghị lực (mặc dù nếu thổ lộ ý tưởng này cho đại úy chỉ huy trưởng hay cho ban chỉ huy cấp cao hơn nữa, thể nào họ cũng cười vào mũi. Những con người không có tầm nhìn.)

Vì thế tốt hơn hết là lo mà xử lí các chỉ thị được gửi đến! Zotov xoa hai bàn tay vào nhau, những ngón tay mập và ngắn, cầm cây viết chì hóa chất đặc biệt, dò các mật mã, chép lại ra những tờ giấy khác bằng nét chữ tròn và rõ những con số dài dằng dặc, thỉnh thoảng lại ghi chú riêng, con số các chuyến tàu, hàng hóa và toa hàng. Công việc này không được phép nhầm lẫn, kể cả lỗi nhỏ nhất như đầu ruồi khẩu súng. Anh tập trung cao độ, nhăn hết cả trán và môi dưới trễ xuống.

Đúng lúc ấy, Podshebyakina gõ cửa phòng.

— Vasil Vasilich, em vào được không? — Và không đợi trả lời, cô bước vào, trên tay cầm một bản danh mục.

Nói chung thì cô không được phép vào phòng này, việc gì cần có thể đứng ở cửa hoặc đứng ngay trong phòng cô mà hỏi cũng được; tuy nhiên ca trực của anh và Valia thường trùng với nhau, và anh cảm thấy không được tế nhị nếu không cho cô vào.

Vì vậy anh lật qua những trang ghi mật mã và làm như tình cờ lấy một tờ giấy trắng để che những cột số vừa viết ra.

— Vasil Vasilich, em nhầm chỗ nào đó! Ông xem này... — Chiếc ghế không nằm trong tầm với, nên Valia tựa người vào cạnh bàn để chìa cho Zotov bảng kê với những hàng xiên xẹo những con số không đều. — Đoàn tàu 446 có một toa số 57831. Em phải chuyển đi đâu?

— Đợi một lát, để tôi tìm. — Anh kéo một ngăn kéo, nghĩ xem cần phải lấy cái nào trong ba tập hồ sơ, rồi mở nhanh (làm sao cho Valia không kịp nhìn thấy), và tìm thấy ngay: — 57831, đi Pachelma.

— Ừ hứ, — Valia vừa nói vừa ghi vào chữ “Pac”, nhưng cô chưa chịu đi ra, vẫn tiếp tục nghiêng người trên bàn giấy của Zotov, mắt chăm chú nhìn vào bản danh mục, môi ngậm đuôi bút chì.

— Cô viết chữ “c” cẩu thả thế này,— Zotov mắng — khéo chút nữa lại đọc thành chữ “v”, rồi lại gửi đi Pavelets mất!

— Sao thế được! — Valia đáp, giọng thản nhiên — Thế có mà Vasil Vasilich mắng em chết! Qua lọn tóc buông trước trán, cô liếc nhìn anh. Nhưng rồi cô cũng lấy bút ghi rõ chữ “c” lại.

— Bây giờ tiếp tục... — giọng cô nũng nịu, lại ngậm bút chì vào miệng. Những lọn tóc dầy của cô, mượt như nhung, xõa xuống trán, che cả mắt, nhưng cô không vuốt chúng lại. Mái tóc cô óng ả, sạch sẽ, và chắc là mềm mại lắm... Zotov tưởng tượng nếu vuốt ve mái tóc ấy chắc sẽ thích thú lắm! — Đây rồi... toa không mui này, 105110.

— Toa nhỏ hả?

— Dạ không, toa lớn.

— Có lí nào...

— Sao vậy?

— Thiếu một số.

— Phải làm sao bây giờ? — cô hất mái tóc ra sau, lông mi cô cũng gần như màu bạch kim.

— Phải tìm chứ sao! Valia, phải chú ý hơn nữa. Có cùng đoàn tàu không?

— Dạ phải.

Nhìn vào tập hồ sơ, Zotov dò theo các con số.

Valia nhìn trung úy, anh có đôi tai vểnh trông thật buồn cười, mũi thì như một củ khoai, đôi mắt màu xanh nhạt với đồng tử màu xám có thể thấy rõ qua cặp kính cận. Những lúc làm việc thế này, anh hay cáu kỉnh, nhưng không ác ý. Điều cô thích nhất ở anh là thái độ lịch sự, không buông thả.

— Ầy dà! — Zotov cáu kỉnh — Thế này thì bắn bỏ cho rồi! Không phải 05, mà là 005, đầu với óc!

— Hai số không? —Valia ngạc nhiên và ghi thêm một số không nữa.

— Cô tốt nghiệp trung học rồi phải không, không thấy xấu hổ à?

— Thôi bỏ đi, Vasil Vasilich, tốt nghiệp trung học thì ăn nhập gì với chuyện này. Toa này chuyển đi đâu?

— Kirsanov.

— Rõ rồi, — Valia ghi vào giấy.

Nhưng cô vẫn chưa đi. Vẫn cứ nghiêng người như vậy trên cạnh bàn giấy của Zotov, sát bên anh. Cô nghĩ ngợi điều gì đó, ngón tạy gại gại thớ gỗ xước ra ở cạnh bàn, vân vê rồi ấn lại vào chỗ cũ.

Tình cờ ánh mắt của Zotov lướt qua cặp vú nhỏ nhắn như thiếu nữ của cô, bây giờ do nghiêng người về trước nên thấy rất rõ, bình thường chúng khuất sau chiếc áo đồng phục đường sắt bằng vải dầy.

— Ca trực sắp hết rồi — cô nói, cặp môi hơi trễ xuống, cặp môi mọng, màu hồng nhạt.

— Mới “sắp” hết thôi, vẫn còn việc phải làm! Zotov cau mày, ngừng ngắm nghía cô gái.

— Rồi ông lại về chỗ nhà bà chủ nhà ấy hả?

— Chứ còn về đâu nữa?

— Thế ông không bao giờ đến chơi nhà ai sao?

— Cô cũng có thời gian tiếp khách à!

— Sao ông lại sống được ở nhà bà ấy nhỉ? Đến một cái giường xếp cũng không có, phải lấy thùng gỗ mà làm giường để ngủ.

— Sao cô biết?

— Thì người ta nói.

— Không phải lúc, Valechka, không nhất thiết phải chăn ấm nệm êm, nhất là tôi nữa. Tôi thấy xấu hổ vì không được ra mặt trận.

— Em thấy không việc gì phải thế. Ông chẳng đang làm nhiệm vụ là gì? Sao lại phải xấu hổ? Còn đủ thời gian để nằm chiến hào mà. Với lại, liệu ông có còn sống được đến lúc ấy không... Còn sống được đến ngày nào, thì cứ phải sống cho ra người.

Zotov nhấc mũ ra, xoa xoa trán (chiếc mũ hơi chật nhưng trong kho không tìm được cái nào vừa vặn hơn).

Trên góc tờ bảng kê Valia nguệch ngoạc bằng bút chì một hình xoắn dài và nhọn trông từa tựa một cái móng vuốt.

— Tại sao ông thôi không ở trọ nhà Avdeev nữa? Ở đấy tốt hơn mà.

Zotov đưa mắt xuống, anh thấy mặt nóng bừng.

— Tôi đi khỏi đấy, có thế thôi!

(Chẳng lẽ chuyện ở nhà Avdeev đã đồn khắp làng rồi sao?..)

Valia cứ tô nhọn mãi cái hình lăng nhăng trông tựa cái móng vuốt.

Không ai nói gì.

Valia liếc nhìn cái đầu tròn tròn của anh. Nếu không có cặp kính, thì cái đầu ấy trông như đầu của một cậu bé, mái tóc mỏng và sáng màu, đôi chỗ loăn xoăn như hình dấu hỏi.

— Ông hình như chẳng bao giờ đi xem chiếu bóng. Chắc ông có nhiều sách hay lắm nhỉ. Cho em mượn vài cuốn nhé!

Zotov ngước mắt lên, mặt anh vẫn còn đỏ.

— Ai nói với cô chuyện sách vở?

— Em nghĩ thế thôi.

— Tôi chẳng có cuốn nào. Để hết ở nhà rồi.

— Ông không muốn cho em mượn chứ gì!

— Không phải, ở đây tôi không có cuốn nào. Làm sao đem theo được? Người lính chỉ có mỗi cái ba lô trên lưng, không thể đem theo nhiều thứ.

— Nếu vậy để em cho ông mượn vài cuốn nhé.

— Nhà cô có nhiều sách không?

— Để trên một kệ.

— Là loại sách nào?

— À... “Lò luyện gang” này, “Công tước Serebrianyi” này, còn nhiều nữa.

— Cô đọc hết chưa?

— Một số thôi. — Đột nhiên cô ngửng đầu, nhìn anh chăm chăm, rồi nói một hơi: — Vasil Vasilich, hay là ông dọn sang ở nhà em đi! Phòng của Vova bỏ trống, ông có thể ở đó. Đốt lò sưởi phòng sẽ ấm. Mẹ em sẽ nấu ăn cho ông. Chỗ ông đang trọ thì có ra gì!

Họ nhìn nhau, mỗi người với suy nghĩ thầm kín của mình.

Valia thấy trung úy lưỡng lự, như là có vẻ sắp nhận lời rồi. Tại sao cái anh chàng “hâm đời” này lại không nhận lời nhỉ? Anh lính nào cũng luôn bảo mình còn độc thân vui tính, có mỗi anh này thì khai là mình có vợ. Mọi quân nhân đều ở trọ trong các nhà có điều kiện tốt trong làng, vừa ấm cúng vừa được chăm sóc. Valia muốn trong nhà có người đàn ông, trong khi cha và anh cô đều ra mặt trận. Khi đó cả hai có thể cùng về nhà sau ca trực, qua những con đường tối tăm, lầy lội (có thể tay trong tay cũng nên), sau đó cùng ngồi ăn tối, nói chuyện bông lơn, kể với nhau đủ thứ chuyện...

Vasia Zotov có vẻ sợ hãi nhìn cô gái, người vừa mới công khai mời anh đến ở trọ nhà cô. Cô chỉ kém anh vài ba tuổi, và nếu như cô gọi anh bằng “ông” thì không phải là do tuổi tác, mà là vì tôn trọng cái lon trung úy trên vai áo anh. Anh hiểu mọi việc sẽ không chỉ dừng lại ở những bữa ăn ngon và hơi ấm của lò sưởi. Anh cảm thấy hồi hộp. Giờ đây anh thèm được luồn tay vào những lọn tóc quăn mềm mại màu bạch kim của cô.

Không được! Không thể nào!

Anh sửa lại cổ áo có gắn phù hiệu sĩ quan màu đỏ, dù cổ áo không hề chật, và chỉnh lại gọng kính.

— Không, Valia ạ, tôi không đi đâu cả. Việc còn nhiều mà ta cứ tán gẫu thế này phí thì gian quá.

Anh đội lại chiếc mũ lưỡi trai màu xanh, nó khiến gương mặt ngây thơ với cái mũi hếch của anh trở nên nghiêm khắc.

Cô gái nheo mắt nhìn anh, kéo dài giọng:

— Thôi được, tùy ông, Vasil Vasilich!

Cô thở dài. Rồi đứng thẳng dậy với vẻ khó khăn, tờ bảng kê cầm trong cánh tay buông thõng, bước ra khỏi phòng.

Anh uể oải chớp mắt. Có lẽ, nếu cô quay trở vào và nhắc lại lời đề nghị lần nữa một cách cương quyết, chắc chắn anh sẽ nhượng bộ.

Nhưng cô không quay lại.

Vasia không thể giải thích với ai vì sao anh phải sống trong một căn nhà lạnh lẽo, bẩn thỉu với một bà già có ba đứa cháu, và phải ngủ trên cái thùng gỗ ngắn chẳng chút tiện nghi thay cho giường. Anh đã từng bị đưa ra làm trò cười, không phải một lần, giữa đám đông những người lính trẻ của cái năm 1941 ấy, khi anh nói rằng anh yêu vợ lắm và nghĩ rằng sẽ chung thủy với cô trọn cuộc chiến, cũng như đặt hết niềm tin vào cô. Đám trai trẻ ấy cười rú lên như điên, vỗ bồm bộp vào vai anh và khuyên anh hãy cố nuôi hi vọng. Từ đấy, chẳng bao giờ anh thố lộ điều ấy nữa, nhưng cảm thấy buồn ghê gớm, đặc biệt vào những lúc nửa khuya giật mình tỉnh giấc, suy nghĩ lo lắng trong lòng không biết vợ mình nơi xa xôi, trong vòng vây của quân Đức, chờ ngày khai hoa nở nhụy, bây giờ ra sao.

Nhưng không phải vì vợ mà anh từ chối lời đề nghị của Valia, mà là vì Polina...

Nhưng thật sự cũng không phải vì Polina nữa, mà là...

Polina, cô gái tản cư từ Kiev có mái tóc cắt ngắn màu đen với gương mặt xanh xao, cô là khách trọ sống ở nhà bà Frosya và làm việc ở bưu điện. Hễ có lúc nào rảnh là Zotov lại đến bưu điện để đọc báo (báo luôn đến trễ, từng chồng một sau vài ngày). Đến bưu điện, anh có thể đọc những số báo tương đối mới hơn, và có thể xem được nhiều loại cùng một lúc thay vì chỉ được một hai tờ. Dĩ nhiên, bưu điện không phải là thư viện, và không ai có nhiệm vụ phải đưa báo cho anh, nhưng Polina lại thông cảm với anh và thường đem tất cả các báo đặt ở chỗ cuối quầy, nơi anh đứng đọc trong cái lạnh. Với Polina, cũng như với Zotov, thì chiến tranh không phải là những vòng quay vô cảm của cỗ xe không gì ngăn nổi, mà là cả cuộc sống cũng như tương lai của cô, và để có thể đoán biết cái tương lai ấy, những ngón tay bồn chồn lo lắng của cô cũng lật từng trang báo với hi vọng mong manh là tìm được chút tin tức gì có thể giải thích về diễn biến cuộc chiến. Họ thường đứng cạnh nhau đọc báo, chỉ cho nhau những tin quan trọng. Những tờ báo thay cho những cánh thư mà chẳng bao giờ họ nhận được. Polina chăm chú đọc những thông báo về kết quả trận đánh ở tiền tuyến, băn khoăn không biết chồng mình có ở mặt trận ấy không, và theo lời khuyên của Zotov cô cũng cố nhíu mày nhăn trán đọc cả những bài báo về chiến thuật của pháo binh và thiết giáp trên tờ Sao Đỏ. Vasia thường đọc to những bài trên tờ Erenburg cho Polina cùng nghe. Anh xin Polina một số báo không gửi đi được và cắt ra một ít bài để cất giữ.

Anh rất yêu quý Polina, con trai cô và cả mẹ cô bằng một thứ tình cảm mà những người chưa từng trải qua đau khổ bất hạnh thì chẳng bao giờ có thể biết được. Anh đem cho con trai cô miếng đường trong khẩu phần của anh. Nhưng trong những lúc cùng lật từng trang báo, chưa bao giờ Zotov dám chạm vào bàn tay trắng muốt của Polina, chẳng phải là vì chồng của cô hay vì vợ của anh, mà chính vì nỗi đau khổ thiêng liêng ràng buộc hai người với nhau.

Polina trở thành người bạn thân thiết nhất, là chứng nhân của lương tri và niềm tin của anh ở Kochetovka này, hay chính xác hơn là ở bên này chiến tuyến, vậy thì làm sao anh lại có thể đến ở nhà Valia được? Liệu Polina sẽ nghĩ thế nào về anh?

Nhưng giả sử như không có Polina đi nữa, thì bây giờ anh cũng chẳng thể nào đi tìm sự an ủi với một người đàn bà khác giữa lúc tất cả những gì thân yêu nhất của anh có nguy cơ bị sụp đổ bất cứ lúc nào.

Và cũng không dễ dàng để thú nhận với Valia, với các sĩ quan trực ban như anh, rằng đêm nào anh cũng đọc một cuốn sách duy nhất, mượn ở một thư viện nào đó trên những chặng đường quay cuồng trong năm nay, luôn là người bạn đồng hành của anh trong chiếc ba lô trên lưng.

Quyển sách khá dầy, bìa mầu xanh, tập 1 của bộ “Tư bản luận” in trên nền giấy hơi vàng đã giòn, của những năm 30.

Suốt năm năm đại học anh đã mong được đọc hết bộ sách quý giá này, và nhiều lần mượn về từ thư viện trường đại học, dự định ghi chú và tóm tắt nội dung. Anh giữ cuốn sách suốt cả học kì, rồi cả năm học, nhưng chẳng khi nào có thời gian rảnh, nào là họp hành, công tác xã hội đoàn thể, thi cử. Và chưa hoàn thành được một trang tóm tắt nào thì đã đến hạn phải trả sách lại cho thư viện, rồi còn chuẩn bị kì thi tháng Sáu. Ngay cả đến khi học môn kinh tế chính trị, thời điểm thích hợp nhất để đọc “Tư bản luận”, thì giáo sư lại bảo “Các anh chị sẽ bị chết đuối trong bộ sách ấy!”, và khuyên sinh viên tốt hơn hết nên đọc sách giáo khoa do Lapidus soạn, và phần tóm tắt trong giáo trình. Thật ra, các sinh viên cũng chỉ kịp làm như thế thôi.

Nhưng giờ đây, mùa thu năm 41, trong cái xó xa xôi bên lề cuộc đại họa, Vasya Zotov đã có thể thu xếp thời gian để đọc “Tư bản luận”. Anh đọc cuốn sách vào những lúc không bận ca trực, hay tham gia khóa huấn luyện, hay công tác đảng do quận ủy giao. Khi còn ở trọ nhà Avdeev, trong căn phòng nhỏ với những chậu hoa ráy thơm và lô hội, anh ngồi sau chiếc bàn con cập kênh với ngọn đèn dầu (máy phát không đủ công suất cung cấp điện cho mọi nhà trong làng), tay mân mê từng trang giấy sần sùi, mắt chăm chú đọc: lần đầu — để nắm ý tổng quát, lần thứ nhì — để lưu ý những chỗ quan trọng, lần thứ ba — để tóm lược và ghi nhớ trong đầu theo trình tự. Những thông cáo từ mặt trận càng mờ mịt bao nhiêu, thì anh lại càng kiên trì miệt mài vào cuốn sách dầy bìa xanh ấy bấy nhiêu. Vasia cảm thấy khi anh lĩnh hội được và ghi nhận toàn bộ ý tưởng của quyển sách, dù chỉ mới tập đầu, thành một chuỗi mạch lạc trong đầu, thì anh sẽ trở thành bất khả chiến bại, không thể khuất phục trong bất kì trận chiến ý thức hệ nào.

Nhưng những giờ buổi tối ấy không có nhiều, và mới chỉ vài trang sách được ghi chú, thì Antonina Ivanovna lại đến quấy rầy.

Đó cũng là một khách trọ ở nhà Avdeev tản cư từ Liski, và trở thành chủ nhiệm nhà ăn ở nhà ga Kochetovka này. Cô ta là một người tháo vát và biết cách đứng vững trên đôi chân của mình, nên không có điều ra tiếng vào gì lắm về nhà ăn của cô ta. Sau này Zotov mới được biết, tại nhà ăn ở ga, khách hàng phải dúi một rúp vào cái ô cửa con con để nhận được một bát nước nóng xam xám đùng đục chẳng tí mỡ thịt, bên trong lơ thơ vài cọng mì, và những ai không muốn ghé miệng xì xụp húp những thứ trong cái bát ấy thì phải bỏ ra thêm một rúp nữa nữa, gọi là tiền đặt cọc, cho chiếc thìa bằng gỗ sứt mẻ. Chiều nào cũng vậy, Antonina Ivanovna ra lệnh cho nhà Avdeev đặt ấm samovar, rồi lôi ra bàn ăn bánh mì và bơ. Cô ta chỉ khoảng hai mươi lăm, nhưng trông ra dáng một mệnh phụ phu nhân lắm lắm, da trắng mịn. Lúc nào cũng xởi lởi chào hỏi ông trung úy, nhưng anh thường hờ hững đáp lại lời chào và suốt một thời gian khá lâu cứ tưởng cô ta là họ hàng gì với bà chủ nhà. Gập người trên quyển sách, anh không để ý và cũng không nghe thấy tiếng cô ta vừa từ chỗ làm về rất muộn, đi ngang qua phòng anh đang ngồi để về phòng ngủ của cô, rồi đến phòng bà chủ nhà, rồi lại quay về phòng riêng. Bỗng cô ta đến gần anh và hỏi: “Đồng chí trung úy, ông đang đọc gì thế?”. Anh lấy quyển vở che tập sách lại, rồi trả lời lửng lơ cho qua chuyện. Một lần khác, cô ta hỏi: “Trung úy này, đêm ngủ em không khoá cửa phòng, thế có nguy hiểm không nhỉ?”. Zotov trả lời: “Có gì mà sợ! Tôi ở ngoài này, có súng mà”. Rồi ít ngày sau đó, đang ngồi đọc sách, anh bỗng có cảm giác cô ta không đi qua đi lại, mà ở luôn trong phòng. Anh quay đầu lại và ngây như phỗng: cô ta ôm mền gối leo lên nằm trên chiếc đi văng trong phòng anh, tóc xõa trên gối, chiếc mền không phủ hết đôi vai trần trắng muốt. Anh tròn xoe mắt sững sờ nhìn cô ta, không biết phải làm sao. “Em nằm đây không phiền gì trung úy chứ?” — cô ta hỏi với giọng cợt nhả. Vasia đứng dậy, mất ý thức. Lí ra anh đã phải bước tới bên cô ta, nhưng cái thân hình tròn trịa được nuôi dưỡng bằng những đồng tiền ăn cướp trên đầu trên cổ người khác thay vì mời chào kéo đến, lại đẩy anh ra xa.

Anh không thốt được một lời, cổ họng nghẹn lại vì ghê tởm căm thù. Anh quay phắt người, gập cuốn “Tư bản luận”, lấy lại bình tĩnh nhét quyển sách vào ba lô, nhảy bổ đến chỗ cái đinh treo áo khoác và mũ, nhấc lấy thắt lưng có khẩu súng nặng trĩu, cứ thế cầm trong tay rồi phóng ra khỏi nhà.

Anh bước ra một khoảng tối đen kịt, không một tia cỏn con ánh sáng nào lọt ra từ những khung cửa sổ che kín, cũng như từ trên bầu trời u ám, gió thu lạnh cuốn những hạt mưa như cắt vào da. Dẵm bừa vào những vũng nước, ổ gà, vũng bùn, anh đi về hướng nhà ga, chưa ý thức được là trên tay còn cầm chiếc dây lưng có bao súng. Cơn giận dữ bất lực bùng lên trong lòng khiến anh suýt bật thành tiếng khóc, anh lang thang trong bóng đêm đen thẫm.

Từ đó, những chuỗi ngày ở trọ nhà Avdeev đối với anh không còn là cuộc sống nữa. Antonina Ivanovna đã thôi không chào hỏi anh, nhưng bắt đầu đưa về nhà một gã đực mặt phị, thường dân nhưng lại mang bốt cao và khoác áo kiểu nhà binh, đúng mốt thời đó. Trong khi Zotov ngồi nghiên cứu “Tư bản luận”, thì cô ta lại cố tình không khép kín cửa phòng, để anh nghe thấy tiếng của họ đùa giỡn, chí chóe nhau, rồi thì tiếng cô ta rít lên và rên ư ử.

Từ đấy anh dọn đến ở trọ nhà bà già nghễnh ngãng, nơi chỉ có thể tìm được một chiếc thùng cũ dùng làm giường nằm, và một tấm vải bố để trải lên.

Nhưng bây giờ thì dường như thiên hạ xầm xì khắp cả Kochetovka. Không biết có lọt đến tai Polina không? Thật xấu hổ...

Những ý nghĩ ấy làm xao nhãng công việc của anh. Anh chụp lấy cây viết chì, cố bắt đầu óc tập trung vào những chỉ thị và lại ghi chép những con số chuyến tàu, hàng hoá, soạn thảo các chỉ thị mới, lưu lại một bản sao. Anh đã gần như hoàn tất công việc, nếu như không có chuyện khó xử với đoàn tàu có số hàng lớn từ Kamyshin tới, không biết phải chia nhỏ ra làm sao và chuyển đi như thế nào. Chỉ có đại úy chỉ huy mới giải quyết được việc này. Zotov nhấn nút một lần điện thoại nội bộ, cầm ống nghe và chờ. Nhấn một lần nữa lâu hơn. Rồi một lần nữa. Đại úy không trả lời. Có nghĩa là không có mặt tại văn phòng. Có lẽ ông ta về nhà để nghỉ sau bữa trưa. Chắc chắn ông ta sẽ quay lại trước giờ đổi ca để nghe báo cáo.

Sau cánh cửa Valia thỉnh thoảng gọi điện cho phòng điều độ. Bà Frosya đến rồi lại đi ra. Sau đó có tiếng bước chân của hai đôi bốt. Có tiếng gõ cửa, rồi cửa mở hé, tiếng người hỏi vọng vào:

— Chúng tôi vào được không?

Và không đợi để được cho phép, họ đẩy cửa bước vào. Người thứ nhất, vóc dáng cao lớn như lính phóng lựu, dẻo dai, mặt đỏ hồng vì giá lạnh, bước vào giữa phòng, dậm gót chào rồi xưng danh:

— Trung sĩ Gaidukov, đội trưởng hộ tống chuyến 95505, ba mươi tám toa, tất cả sẵn sàng, chuẩn bị lên đường!

Anh ta đội chiếc mũ mùa đông mới toanh, mặc áo khoác dài, phẳng phiu, loại dành cho sĩ quan, xẻ ở vạt sau, thắt lưng da to bản có khoá hình ngôi sao, đôi bốt bằng da bò bóng lộn.

Người thứ hai đứng đằng sau, chỉ nhỉnh hơn vai Gaidukov một chút, vai rộng, gương mặt như tạc bằng gỗ đen sạm, u ám, trông như kiệt sức, vẫn đứng gần chỗ cửa ra vào. Anh ta miễn cưỡng chụm năm ngón tay giơ lên vành mũ mùa đông không gài nút che tai, và thay vì báo cáo dõng dạc theo điều lệnh, anh ta nói khẽ:

— Hạ sĩ Dygin, đội trưởng hộ tống chuyến 71628, bốn toa mười sáu tấn.

Một vạt áo khoác rách nham nhở như bị cuốn vào một cái máy nào đấy không thể vá víu lại được nữa, giắt trong chiếc thắt lưng hẹp bằng vải dầu, đôi bốt vải nhăn nhúm như miếng đệm cao su nối giữa hai toa tàu.

Hạ sĩ Dygin có hàng lông mày rậm và quai hàm bạnh trông rất giống gương mặt Chkalov,[3] nhưng anh ta không phải là một Chkalov trẻ tuổi không biết sợ hãi là gì, mới hi sinh cách đây không lâu, mà là một Chkalov đã từng trải, nhàu nhĩ.

— Tốt lắm, rất vui được gặp các đồng chí! — Zotov vừa nói vừa đứng dậy.

Xét về cấp bậc lẫn tính chất công việc thì anh chẳng cần phải đứng lên để chào một trung sĩ nào bước vào phòng làm việc cả. Nhưng lúc này anh thật sự vui mừng được gặp họ và mau chóng hỗ trợ họ giải quyết công việc. Từ khi sĩ quan phụ tá không có nhân viên trực tiếp nữa, thì những người này là những người duy nhất để Zotov có thể thể hiện mối quan tâm và sự chỉ đạo của cấp chỉ huy, dù rằng họ chỉ ghé qua năm ba phút hoặc đôi ngày.

— Tôi biết, tôi vừa nhận được chỉ thị về chuyến tàu của các đồng chí — Anh tìm trên bàn và nhìn vào — Đây rồi, 95505 và 71628... — và ngước mắt thân thiện nhìn hai đội trưởng.

Áo khoác và mũ của họ chỉ hơi ướt, lấm tấm những giọt nước nhỏ.

— Các anh làm thế nào mà khô ráo vậy? Tạnh mưa rồi à?

— Lúc mưa lúc tạnh, thưa trung úy, — anh chàng Gaidukov cao lớn cân đối mỉm cười, lúc lắc đầu — tuy chưa đứng theo tư thế “nghỉ” nhưng cũng thư giãn chút ít — Gió bắc đã bắt đầu nổi lên rồi đấy!

Anh ta chỉ khoảng mười chín là cùng, nhưng những ngày tháng lăn lộn ở mặt trận đã tạo vẻ rắn rỏi trên gương mặt đượm nét phong sương.

(Chính vẻ rắn rỏi nơi chiến trận khiến Zotov phải rời bàn đứng lên để gặp họ.)

Thật ra sĩ quan phụ tá cũng chẳng có việc gì để nói nhiều với họ. Hơn nữa cũng không được phép nói về thứ hàng hoá chở đi, bởi vì có thể các toa tàu được niêm phong kín, các thùng hàng được đóng kín và đội hộ tống cũng chẳng biết họ đang hộ tống thứ gì.

Nhưng đối với họ, sĩ quan quân vận tại một trạm có thể đòi hỏi ở họ rất nhiều.

Và họ chăm chú nhìn anh, một ánh mắt thì vui vẻ, còn ánh mắt kia thì buồn bã ưu tư.

Gaidukov cần phải tìm hiểu xem tay sĩ quan này có phải là một con chuột hậu phương hay soi mói không, y có đòi khám xét đoàn tàu và hàng hoá do mình hộ tống hay không.

Về hàng hoá chẳng có gì phải lo, vì anh ta không chỉ đơn thuần phải bảo vệ, mà đúng hơn là yêu quý chúng. Chuyến hàng là vài trăm con ngựa chiến, do người phụ trách khí tài gửi đi, vì không tin tưởng việc cung cấp đầy đủ cỏ khô cho đám ngựa trong suốt cuộc hành trình, nên đã nhét thật nhiều rơm ép theo đoàn tàu để đàn ngựa có cái ăn. Gaidukov lớn lên ở nông thôn, từ bé đã mê thích ngựa, vì thế bây giờ coi ngựa như chiến hữu, chứ không phải vì nhiệm vụ, mà tự nguyện trông nom và giúp đỡ cho mấy người lính được cử đi theo coi sóc bầy ngựa. Cứ mỗi lần anh đẩy cánh cửa lùa, leo vào toa chở súc vật bằng một chiếc thang dây, thì cả mười sáu con ngựa trong toa — đỏ, nâu, đen, xám, đủ loại đều quay những chiếc mõm dài, khôn ngoan của chúng lại phía anh, có con còn ghếch mõm trên lưng con bên cạnh, nhìn anh với cặp mắt lớn buồn bã không chớp, tai chúng giật giật liên hồi, không hẳn như để xin thêm ít rơm khô nữa, mà như để anh bảo cho chúng biết đang đưa chúng đi đâu mà lại nhốt vào cái thùng ầm ĩ và lắc lư này. Gaidukov đi quanh bầy ngựa, len lỏi giữa những bộ mông nóng hổi, vuốt ve bờm ngựa, và những lúc không có lính canh, còn vuốt ve mặt chúng và lẩm bẩm nói chuyện với chúng nữa. Ở mặt trận ngựa có phần vất vả hơn người nhiều và chúng cần cho mặt trận như cái chân thứ năm.

Điều làm Gaidukov lo lắng trước viên sĩ quan (tuy nhiên, ông này rõ ràng là một tay dễ tính, chẳng có gì phải đề phòng) là ông trung úy có thể đòi đi kiểm tra các toa hàng. Mặc dù đám lính trong đội hộ tống của Gaidukov đều là lính mới, nhưng anh ta đã từng ở tuyến đầu và từng bị thương tại mặt trận Dnyepr hồi tháng Bảy, phải nằm viện mất hai tháng và làm việc tại kho quân y, và bây giờ anh ta lại ra mặt trận. Vì thế anh nắm vững quân luật, biết rằng có thể và cần phải vi phạm điều gì. Họ gồm hai mươi binh sĩ trẻ tình cờ lãnh nhiệm vụ hộ tống đàn ngựa, và ngay sau khi bàn giao bầy ngựa là lập tức liên lạc với một sư đoàn tác chiến để bổ sung quân số. Có thể chỉ sau vài ngày, những bộ quân phục mới toanh ấy sẽ phủ đầy đất cát ở hố cá nhân hay công sự rồi... còn may mắn chán nếu còn được ở trong hố cá nhân, chứ chỉ một vài mô đất nhỏ làm chỗ che đầu tránh lựu đạn của bọn Đức bắn sượt qua vai, Gaidukov ghét nhất súng bắn lựu của bọn Đức đã làm anh bị thương hồi mùa hè. Vậy nên anh muốn được hưởng nốt những ngày cuối cùng ấm cúng, thân tình, vui vẻ này. Trong toa tàu rộng rãi, hai cái lò sưởi bằng gang chất đầy than hồng, những hòn than to bằng nắm tay lấy từ các toa khác. Đoàn tàu của họ luôn được chuyển đi nhanh, không phải dừng lâu ở đâu, nhưng mỗi ngày một lần phải tiếp nước uống cho ngựa, và ba ngày một lần nhận thực phẩm theo phiếu khẩu phần của đội hộ tống. Vì là đoàn tàu tốc hành như vậy, nhiều người sẽ muốn xin quá giang. Mặc dù điều lệnh nghiêm cấm thường dân lên toa hộ tống, Gaidukov và phụ tá của anh, tuy làm ra vẻ ngăn cản, nhưng cũng không thể thờ ơ trước cảnh những con người lạnh cóng trong bộ áo khoác mùa thu cuống cuồng chạy dọc theo những toa tàu. Không phải để mặc bất cứ ai xin lên cũng được, nhưng họ không từ chối nhiều người. Chỉ cần một lít rượu nấu là tay thanh tra khôn lanh đã có thể lên tàu rồi, chỉ cần khoanh mỡ lợn muối là lão già tóc hoe với mấy cái túi xách lỉnh kỉnh đã không còn phải đứng trong gió lạnh, cũng có khi vì lòng trắc ẩn, không thể nhẫn tâm đứng ngó, họ kéo người ta lên mà chẳng đòi hỏi gì hết, nhưng thường thì lính hộ tống bao giờ cũng chìa tay cho đám đàn bà con gái trẻ, những người cũng đi đâu đó vì một mục đích gì đó. Bấy giờ, trong toa tàu ấm cúng, lão già tóc hoe lẩm nhẩm ôn lại thời đệ nhất thế chiến, hồi đó lão được không ít huy chương thánh George chữ thập vàng, trong khi ấy thì một trong những cô gái không cho ai chạm đến người, co ro cúm rúm như một con chim non, lách đến ngồi sát bên lò sưởi. Vì nóng, các cô gái khác đã cởi hết bành tô, áo khoác từ lâu rồi, thậm chí cả áo len. Có một cô, mặc mỗi chiếc áo cộc màu đỏ, người cũng đỏ hồng, giặt áo cho đám lính trẻ, quất cuộn áo ướt vào người anh chàng đang phụ một tay, khi anh này cứ sấn lại sát bên cô nàng. Hai cô khác thì nấu ăn cho đám lính, họ lấy mỡ lợn muối nhà làm để chế biến lại các khẩu phần quân đội khô khan. Còn một cô nữa ngồi khâu vá quần áo rách cho đám lính. Khi tàu rời ga, họ dùng bữa, ngồi bên lò sưởi, hát đôi câu theo nhịp lắc lư của toa tàu, và rồi chẳng cần phải phân công ai phải trực đêm, ai được nghỉ ngơi (cả bọn cù g mệt mỏi như nhau), họ tản ra, bò lên chỗ ngủ của mình làm bằng những tấm ván thô, đánh giấc ngon lành. Và trong đám phụ nữ hôm nay, cũng như đám phụ nữ hôm qua, vừa mới tiễn chồng ra chiến trận và trong đám các cô gái nữa, không phải tất cả đều có thể cưỡng được cám dỗ, nên trong những góc tối khuất ánh đèn dầu, một số nằm gọn trong lòng những chàng trai trẻ.

Còn tiếc gì với người lính trẻ hôm nay lên đường ra tiền tuyến! Biết đâu chừng đây là những ngày cuối cùng của đời họ.

Điều duy nhất mà Gaidukov muốn ở ông trung úy bây giờ cho chuyến tàu lên đường càng sớm càng tốt. Và anh cũng muốn biết lộ trình chuyến tàu để liệu xem các bà các cô sẽ xuống đâu, còn bản thân anh sẽ chiến đấu ở chiến trường nào? lần này có ai trong bọn họ được đi qua quê nhà hay không?

— Như vậy là... — trung úy nhìn các chỉ thị vừa bảo — các anh không đi cùng với nhau? Họ nối các toa lâu chưa?

— Vài ga trước, thưa trung úy.

Cặp mắt kính của trung úy săm soi vào tờ giấy, môi anh trề ra.

— Sao người ta lại chuyển anh đi đường này? — anh hỏi người có khuôn mặt giống Chkalov nhưng già hơn — Anh đã ở Penza chưa?

— Thưa đã — giọng Dygin khàn khàn.

— Quỷ quái thật, sao người ta lại cho anh đi vòng vo qua tận Ryazhsk thế này? Lạ lùng thật, chả hiểu đầu óc ra làm sao!

— Bây giờ chúng tôi có đi cùng nhau không? — Gaidukov hỏi. (Trong lúc đến văn phòng sĩ quan trực ban, anh đã biết hướng đi của Dygin và muốn đoán hướng của mình.)

— Đến ga Gryazi cùng nhau.

— Sau đấy thì sao ạ?

— Bí mật quân sự! — Zotov lắc lắc đầu vui vẻ, nheo mắt nhìn từ trên xuống dưới anh chàng trung sĩ cao lớn qua cặp mắt kính.

— Cuối cùng thì sao ạ? Có qua Kastornaya không, trung úy? — Gaidukov nghiêng người về phía trung úy, cố gắng tán tỉnh.

— Đến đó khắc biết, — Zotov làm ra vẻ nghiêm nghị trả lời, nhưng miệng cười cười, và vì thế Gaidukov hiểu rằng có đi qua Kastornaya.

— Tối nay chúng tôi đi ngay à, thưa trung úy?

— Đúng, không thể giữ các anh lại.

— Tôi không thể đi được — giọng Dygin rít lên như bắn gắt, không thân thiện.

— Cá nhân anh? Anh bị ốm sao?

— Cả đội hộ tống.

— Có nghĩa là... thế nào? Tôi chưa hiểu. Tại sao các anh không thể?

— Bởi vì chúng tôi không phải là những con chó! — Dygin gằn giọng, hai tròng mắt anh long lên giận dữ dưới mi mắt.

— Nói năng kiểu gì thế, — Zotov bật đứng thẳng lên, trán cau lại — hạ sĩ phải thận trọng lời nói!

Đến lúc ấy anh mới nhận thấy trên cổ áo Dygin chỉ có một phù hiệu hạ sĩ hình tam giác màu xanh, còn bên kia trống trơn, chỉ còn vết hình tam giác có lỗ thủng ở giữa. Hai dải mũ trông như hai cái tai xệ, lòng thòng dài xuống đến ngực.

Tia mắt dữ dằn của Dygin nhìn xếch lên:

— Bởi vì chúng tôi... — giọng anh ta khàn khàn như người bị viêm họng — mười một ngày nay chưa được ăn một thứ gì!

— Hả?? — trung úy giật giọng, mắt kính tuột khỏi một vành tai, anh chụp lấy gọng kính, đeo lên lại — Sao lại như thế được?

— Thế đấy. Chính thế... Rất đơn giản.

— Các anh có phiếu khẩu phần không?

— Nhưng không thể nhai giấy được.

— Vậy các anh làm thế nào mà sống được?

— Chúng tôi vẫn sống thế đấy.

Làm thế nào mà sống được chứ! Câu hỏi như của đứa trẻ nít, rỗng tuếch từ cửa miệng anh chàng “bốn mắt” làm Dygin nổi giận, và y nhủ thầm là đừng có trông mong gì sự giúp đỡ ở cái ga Kochetovka chết tiệt này. Làm thế nào mà sống được chứ! Cái đói và sự giận dữ làm cho quai hàm Dygin bạnh ra, anh ta hầm hầm nhìn ông sĩ quan phụ tá có nước da trắng bệch, vùi đời mình trong căn phòng sạch sẽ ấm cúng này. Cách đây bảy ngày, tại một nhà ga bọn họ kiếm được hai bao củ cải trong một đống bao, và suốt một tuần liền họ đã luộc số củ cải ấy mà ăn sạch. Và củ cải đã khiến họ phát nôn phát mửa, ruột họ không tiêu hóa nổi chúng nữa rồi. Đêm hôm kia, khi chuyến tàu của họ đợi ở ga Alexander Nevsky, Dygin đưa mắt nhìn đám lính kiệt quệ của anh, họ đều là lính dự bị và còn lớn tuổi hơn anh, mặc dù anh cũng chẳng trẻ trung gì nữa. Dygin quyết định và đứng dậy. Gió lùa dưới gầm toa và rên rỉ qua những khe hở. Phải tìm thứ gì để đám lính dịu cơn đói, dù chỉ chút ít tạm lót lòng. Và anh lần bước vào bóng đêm. Chừng một tiếng rưỡi đồng hồ sau anh trở về và quăng ba ổ bánh mì lên chỗ ngủ. Người lính ngồi sát bên sửng sốt: “Cả bánh mì trắng nữa cơ à!” — “Thế à? Tôi không để ý!” — Dygin thản nhiên đưa mắt nhìn mấy ổ bánh. Bây giờ thì chẳng đời nào Dygin lại kể chuyện này cho gã trung úy bốn mắt biết. Làm thế nào mà sống được chứ! Mười ngày qua, bốn người bọn họ đi qua quê hương xóm làng của mình mà như đi trên hoang mạc. Hàng hoá bọn họ hộ tống là hai mươi ngàn cái xẻng công binh trét đầy mỡ bỡ nhà máy. Và Dygin đã biết từ lúc khởi hành là bọn họ phải đưa số xẻng này đi từ Gorky đến Tbilisi. Nhưng tất các hàng hoá khác đều “khẩn” hơn đám cuốc xẻng đáng nguyền rủa, lạnh cứng trong lớp mỡ bò này. Đã bắt đầu tuần lễ thứ ba mà bọn họ vẫn chưa đi được nửa đường. Nhân viên điều độ ở ga cuối cùng trước khi đến đây, một tay vô tâm vô tính, đã tháo bốn toa của họ và để mặc ở một ga xép. Ở Gorky bọn họ được lĩnh khẩu phần cho ba ngày, sau đó ở Saransk thêm khẩu phần cho ba ngày nữa, rồi kể từ đó không một ga nào bọn họ có thể thấy kho quân nhu mở cửa. Tuy nhiên nỗi khổ ấy vẫn còn có thể chịu đựng được, giả sử như họ nhịn đói năm ngày liên tiếp mà biết chắc rằng sau đó sẽ nhận được đủ khẩu phần cho tổng số mười lăm ngày. Nhưng bụng thì cồn cào còn tâm hồn thì rên xiết vì quy định của tất cả các kho quân nhu: không cấp phát khẩu phần quá hạn. Qua rồi là trôi theo con nước, miễn hồi tố!

— Nhưng tại sao họ lại không cấp phát khẩu phần cho các anh nhỉ? — trung úy hỏi thêm.

— Vậy như ông, ông có cấp không? — Dygin nghiến quai hàm.

Trước khi đoàn tàu dừng hẳn, anh ta đã nhảy xuống hỏi một người lính ở sân ga là có kho quân nhu ở đó không. Nhưng trời đã tối, và theo quy định, không thể nhận được gì ở cái ô cửa đó.

Trung sĩ Gaidukov quên bẵng cái tư thế đứng buồn cười của mình trước sĩ quan trực ban và quay sang Dygin. Cánh tay dài của anh vỗ vỗ vào vai Dygin:

— Sao anh không cho tôi biết sớm, người anh em? Bọn tôi “tiếp đạn” cho anh ngay bây giờ!

Dygin chẳng động đậy gì trước cái vỗ vai mà cũng chẳng thèm quay lại, ánh mắt câm lặng hướng vào trung úy. Y thấy buồn nôn trước sự vô dụng của bản thân và của cả những gã còn lớn tuổi hơn y, trong suốt mười một ngày trời đói khát, chưa lần nŕo bọn họ ngỏ lời xin dân thường hay binh lính khác cho miếng gě ăn; họ hiểu rằng vào thời buổi này làm gì có của dư mà cho người khác được. Và cũng chẳng có ai xin quá giang bọn họ trong những cái toa bị bỏ lại chưa được nối vào đoàn tàu. Thuốc lá của họ cũng hết nhẵn. Thành toa tàu của họ đầy những khe hở, và họ lấy vải bạt bịt kín ba trong bốn ô cửa sổ, vì thế dù giữa ban ngày trong toa cũng tối om. Thất vọng não nề, họ chẳng buồn đốt lò sưởi lên cho ấm, rồi trong suốt thời gian bị bỏ rơi lại một hai ngày, họ ngồi bó gối quanh chiếc lò sưởi đã tắt, luộc củ cải trong các bình đựng nước, dùng dao găm xiên củ cải mà ăn, chẳng nói lấy nửa lời.

Gaidukov nhanh nhẹn đứng thẳng người lên:

— Đồng chí trung úy, cho phép tôi ra ngoài?

— Đi đi.

Gaidukov chạy ra. Có lẽ anh ta đi giải quyết việc chia sẻ thức ăn và thuốc hút cho bọn Dygin. Bọn ta cho bà già khóc lóc ấy đi nhờ mà không lấy gì, như vậy để bà ta chia ít thức ăn cho họ! Còn tay thanh tra nữa, phải gõ xem cái va li của y còn những thứ gì.

— Ừm...mm, đã sáu giờ — trung úy tìm cách giải quyết — kho quân nhu đóng cửa mất rồi.

— Giờ này thì kho nào cũng đóng... Họ mở cửa từ mười giờ sáng đến năm giờ chiều... Ở Penza tôi đứng xếp hàng cả buổi, đến lượt thì tàu lại khởi hành. Đến Morshanck thì đã quá nửa đêm rồi. Đến Ryazhsk cũng đêm nốt.

— Hượm đã, hượm đã!— trung úy bối rối — Tôi không để mặc vụ này. Được rồi!

Anh nhấc ống nghe điện thoại nội bộ, nhấn một hồi dài.

Không ai nhấc máy.

Anh chuyển sang nhấn ba hồi.

Vẫn không ai nhấc máy.

— Quỷ tha ma bắt! — Thêm ba hồi nữa — Guskov hả?

— Vâng, thưa trung úy.

— Sao không có ai trực điện thoại?

— Em vừa ra ngoài. Đi lấy ít sữa chua. Trung úy có dùng không, để em đem lên?

—Vớ vẩn, tôi không cần gì cả!

(Anh không nói rõ ra vì có Dygin đứng bên cạnh. Bao giờ anh cũng cấm Guskov đem đến bất cứ thứ gì, đó là nguyên tắc. Để giữ cho quan hệ công tác lành mạnh, nếu không thì không thể đòi hỏi cấp dưới chấp hành nghiêm túc. Zotov đã có lần báo cáo với đại úy về việc vô kỉ luật của Guskov.)

— Guskov, có việc này. Có đoàn hộ tống bốn người đến đây, từ mười một ngày nay họ chưa được lãnh tí khẩu phần nào.

Có tiếng Guskov huýt sáo trong ống nghe.

— Mấy anh chàng này đoảng thật!

— Vậy đấy. Phải giúp họ. Này, bây giờ phải gọi Chichishev và Samorukov, bảo họ mở kho cấp khẩu phần theo đúng phiếu của đội hộ tống nhé.

— Tìm họ ở đâu bây giờ, không đơn giản đâu, trung úy!

— Ở đâu hả? Chỗ trọ của họ.

— Lầy lội thế này, bùn đến đầu gối, lại tối như...

— Chichishev sống gần đây mà.

— Còn Samorukov? Y ở tít bên kia. Mà y cũng không chịu đến đâu, thưa trung úy.

— Chichishev sẽ đến!

Chichishev là kế toán quân đội, trong lực lượng dự bị và đeo lon thượng sĩ, nhưng chẳng có dáng dấp gì là một người trong quân đội cả, mà cứ như là một thày kế toán già bị cái bệnh nghề nghiệp ám ảnh. Ông ta không thể nói chuyện mà không có cái bàn tính một bên. Ông hỏi: “Mấy giờ rồi? Năm giờ hả?” — và thế là gẩy cái “cách” năm hạt bàn tính sang một bên. Hay khi lí sự: “Nếu một người đàn ông (gạt một hạt bàn tính) cảm thấy sống khó khăn. Rồi anh ta (gạt tiếp hạt thứ hai) phải cưới vợ”. Khi ngồi trong ô cửa sổ có song sắt ngăn cách với đám lính xếp hàng la ó bên ngoài, chìa phiếu khẩu phần vào cái lỗ chỉ hé mở vừa đủ cho lọt một cánh tay, Chichishev có thái độ hết sức cứng rắn, la hét đám lính, gạt tay họ ra rồi đóng sập cánh cửa lại, không cho đưa phiếu vào nữa. Nhưng mỗi khi ông ta ra khỏi nơi trú ẩn gặp gỡ với đám lính, hoặc giả một toán nào đó tìm được cách lọt vào phòng làm việc của ông, thì lập tức ông ta rụt đầu vào đôi vai nhỏ và đổi giọng ngọt ngào “người anh em”, rồi đóng dấu cái cộp vào phiếu của họ ngay tắp lự. Trước cấp trên bao giờ ông ta cũng lăng xăng khúm núm, không dám từ chối điều gì với ai có đeo lon trên cổ áo. Kho quân nhu không thuộc quyền điều hành của sĩ quan phụ tá trực ban nhưng Zotov tin rằng Chichishev sẽ không từ chối.

— Còn Samorukov sẽ không đến đâu, — Gushov nói một cách chắc chắn. Samorukov là một thượng sĩ nhất, nhưng y lại rất coi thường các ông trung úy. Khoẻ mạnh như một con sói no nê, y là thủ kho kho quân nhu, nhưng cung cách của y như một gã bán tạp hóa, và hách xì xằng như một ông đại tá. Với bộ điệu trịnh trọng, luôn đến muộn mười lăm phút, y bước tới chỗ nhà kho, kiểm tra các chốt cửa, mở ổ khoá, nâng cánh cửa lên rồi móc cái móc để giữ cho cánh cửa khỏi sập xuống, trong khi ấy cái bản mặt phị mỡ hãm tài của y lại tỏ vẻ ta đây lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ. Trong khi biết bao nhiêu người lính hối hả vội vã cho kịp chuyến tàu, đi từng toán hay cá nhân, kể cả những thương binh, chen chúc trước cái ô cửa sổ, chửi thề và xô đẩy nhau, cố làm sao chen đến gần hơn, thì Samorukov vẫn bình thản, ung dung vén tay áo đến tận khuỷu tay, để lộ hai cánh tay nung núc của một anh hàng thịt, soi mói kiểm tra con dấu của Chichishev đóng lên các phiếu khẩu phần rách nát, quăn queo, sau đấy khoan thai cân số thực phẩm (bao giờ y cũng cân thiếu) mà chẳng bao giờ băn khoăn tự hỏi người lính đi lĩnh khẩu phần ấy liệu có kịp chuyến tàu hay không. Y cố tình ở trọ tại một nơi khá xa nhà ga để khỏi bị ai quấy rầy ngoài giờ làm việc, và lại còn cẩn thận chọn bà chủ trọ nào có khoảnh vườn và một con bò sữa.

Nghĩ đến Samorukov, Zotov thấy cơn giận sôi lên trong lòng. Anh căm thù loại người như y, như căm thù bọn phát xít, mối nguy cơ từ bọn ấy không kém một chút nào. Anh không hiểu sao đồng chí Stalin lại không ra chỉ thị bắn bỏ bằng hết những loại Samorukov như vậy, xử bắn ngay cửa kho quân nhu, công khai trước nhân dân.

“Không, Samorukov sẽ không đến thật” — Zotov nghĩ thầm và lại thấy giận điên lên, đồng thời lại thấy hổ thẹn vì không dám động đến y. Có lẽ Zotov không định động đến Samorukov nếu như những người lính hộ tống này bị bỏ đói chừng năm ba ngày. Đằng này những mười một ngày!

— Nghe này, Guskov, đừng sai lính đi gọi y, đích thân anh phải đi tìm y cho bằng được. Đừng nói về chuyện bốn người lính bị bỏ đói, mà nói là đại úy, thông qua tôi, gọi y có việc khẩn, hiểu chưa? Bảo y lên gặp tôi. Tôi sẽ giải quyết với y!

Guskov im lặng.

— Sao không trả lời? Anh hiểu lệnh không? Hiểu thì nói “Rõ!” rồi thi hành ngay đi.

— Nhưng trung úy đã báo cáo đại úy chưa?

— Không phải việc của anh! Tôi chịu trách nhiệm! Đại úy ra ngoài rồi, không có ở đây.

— Đại úy sẽ không ra lệnh cho y làm thế đâu. — Guskov nói — Không có quy định nào bắt phải mở kho giữa đêm hôm để phát vài cân bánh, mấy con cá mòi!

Sự thật đúng là như vậy.

— Mà gấp gáp thế làm gì? — Guskov phân bua — Cứ để họ đợi đến mười giờ sáng mai. Một đêm nữa thì có gì là ghê gớm! Nằm sấp xuống đè cho bụng khỏi sôi!

— Nhưng tàu sắp chạy rồi. Chuyến này gấp lắm, toa của họ bị tháo ra ở ga trước, bị giữ lại lâu quá. Hàng phải gửi gấp, người ta đang chờ.

— Nếu tàu sắp chạy thì Samorukov có đến cũng chẳng kịp. Lội bùn từ đây đến đó rồi quay lại, kể cả có đèn bão để soi đường, ít nhất cũng mất tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ.

Guskov lại nói thêm một điều đúng nữa...

Quai hàm nghiến chặt, hai dải mũ che tai lòng thòng, gương mặt đen sạm của Dygin chăm chăm về phía ống nghe — anh ta cũng đoán biết được người ta nói gì ở đầu dây bên kia.

— Hôm nay cũng toi rồi — anh ta lắc đầu thất vọng.

Zotov thở dài, tay nhả nút ấn để Guskov ở đầu bên kia không nghe được.

— Phải làm gì bây giờ, người anh em? Hôm nay không được rồi. Chắc phải tới ga Gryazi thôi? Chuyến này là chuyến tốc hành, đến đó thì cũng vừa kịp sáng.

Có vẻ như sắp bị thuyết phục, nhưng Dygin cảm thấy điểm yếu ở viên trung úy này.

— Tôi không đi. Bắt giam cũng chịu, tôi không đi đâu hết.

Vừa lúc ấy có tiếng gõ cửa. Một người ăn mặc dân sự, đầu đội chiếc mũ kếp rộng, bằng vải dạ kẻ ca rô đen xám xen kẽ. Ông ta nghiêng mình thật lịch sự và hỏi xin phép được vào phòng, nhưng bên trong không ai nghe ông ta nói gì.

— Mời vào! — Zotov nói lớn, rồi ấn nút bộ đàm: — Thôi được, Guskov, gác ống nghe đi, tôi sẽ nghĩ cách.

Người đàn ông bên ngoài chưa hiểu ngay, sau đó đợi một chút rồi lại hỏi:

— Thưa, tôi vào được không ạ?

Giọng nói của người lạ không khỏi khiến Zotov ngạc nhiên, một giọng trầm, giàu âm điệu và được nén hơi lại để khỏi vang lên. Ông mặc chiếc áo khoác dầy, màu nâu đỏ, vạt dài nhưng tay áo lại bị cắt ngắn, kiểu áo dân sự, chân đi giầy lính Hồng quân có quấn xà cạp, tay xách chiếc ba lô nhỏ, bẩn thỉu. Vừa bước vào, tay ông ta nhấc chiếc mũ dạ, nghiêng mình về phía hai người:

— Chào các ông!

— Chào ông.

— Quý ông vui lòng cho biết, — ông ta hỏi thật lịch sự, phong thái đĩnh đạc cứ như là đang ăn mặc rất đàng hoàng chứ không phải lạ lùng như vậy — ai là sĩ quan chỉ huy ở đây ạ?

— Tôi là phụ tá trực ban.

— Vậy có lẽ ông chính là người tôi đang muốn gặp rồi.

Ông nhìn quanh tìm chỗ treo mũ, chiếc mũ dường như bị bẩn vì bụi than, không thấy chỗ treo chiếc mũ, ông kẹp nó vào khuỷu tay bên kia, bàn tay còn lại cởi khuy áo dạ. Chiếc áo không có cổ, đúng hơn thì cổ áo đã bị cắt bỏ, chiếc khăn len quấn quanh cổ ông ta. Bên trong áo khoác người khách mặc bộ quần áo Hồng quân mùa hè, bạc phếch, bẩn thỉu, ông ta bắt đầu giơ tay cởi khuy túi áo ngực.

— Khoan khoan, đợi một chút! — Zotov khoát tay, anh quay sang Dygin, đang đứng bất động và thiểu não. — Tôi sẽ làm tất cả những gì mà tôi có thể làm được, tôi sẽ cho gỡ toa của các anh ra khỏi chuyến này, mười giờ sáng mai các anh sẽ được lãnh khẩu phần...

— Cảm ơn trung úy — Dygin nói, hai mắt rưng rưng.

— Không phải cảm ơn, thật ra còn chưa thu xếp xong. Chuyến tàu sắp tới là chuyến tốc hành, rất thuận lợi. Còn bây giờ thì chưa biết sẽ nối các anh vào chuyến nào đây.

— Dù gì chúng tôi cũng đã mất hai tuần rồi, vậy sớm hay muộn thêm một ngày có khác gì đâu — Tôi biết hàng này...

— Chớ, chớ! — Zotov giơ ngón tay lên lắc lắc — Chúng ta không được phép bàn chuyện này. — Liếc mắt về phía người lạ, bước đến sát Dygin, vẫn thì thầm bằng cái giọng miền Volga — Nếu anh đã biết là hàng gì rồi, thì thử hình dung đi: bao nhiêu người sẽ dùng số xẻng ấy để đào hố cá nhân? Hai sư đoàn! Xuống được hố cá nhân có nghĩa là mạng sống của họ được bảo đảm! Hai vạn chiếc xẻng là hai vạn mạng sống của các chiến sĩ Hồng quân! Phải không?

Zotov lại liếc mắt nhìn người lạ. Ông ta hiểu ý nên đã đi ra phía vách, quay lưng lại, bàn tay lần lượt che, không phải là che, mà như thể xoa tai cho đỡ lạnh.

— Sao? Ông lạnh à? — Zotov cười to.

Người lạ quay lại, mỉm cười:

— Vâng, ông thấy đấy, rét thật. Gió khủng khiếp. Ẩm ướt quá chừng.

Phải, gió rít lên, quất vào góc toà nhà, lay động tấm kính chưa dán kín phía cửa sổ bên phải làm phát ra những tiếng lạch cạch sau tấm rèm. Nước trong ống máng bể lại chảy ào ào.

Người khách lạ lùng râu ria lởm chởm này có một nụ cười dễ mến vô cùng, có thể làm dịu tâm hồn. Tóc ông chưa cạo hết. Những sợi tóc ngắn, mỏng và mềm phủ kín cái đầu tròn của ông đã ngả sang màu xám vì những sợi bạc.

Ông ta trông chẳng ra quân sự, cũng chẳng ra dân sự.

— Thưa ông đây, — tay ông chìa ra miếng giấy.— Giấy tờ của tôi...

— Lát nữa, lát nữa. — Zotov cầm tờ giấy nhưng chưa xem. — Mời ông ngồi... Đây, ghế đây. — Nhìn người đàn ông với chiếc áo khoác kì khôi lần nữa, anh quay lại chỗ bàn, lấy bản mã số và bảng kê, khóa két sắt, rồi ra hiệu cho Dygin và cùng anh ta qua phòng nhân viên điều độ quân sự.

Cô đang bận điện thoại, còn bà Frosya ngồi xổm bên lò sưởi để hong quần áo cho khô. Zotov lại gần Valia, nắm lấy tay cô, tay đang cầm ống nghe.

— Valyuta...

Cô gái quay lại, sống động, nhìn anh với vẻ hóm hỉnh, hình như cô cảm thấy lạ vì anh dịu dàng nắm cổ tay cô. Nhưng cô còn phải kết thúc cuộc điện thoại:

— Chuyến 1002 chuẩn bị ra, chúng tôi không có gì gửi đi cả. Cho sang đường đi Tambov nhé, Petrovich!

— Valechka! Bảo bà Frosya mau mau ghi lại, hay tốt hơn hết bảo bà ấy đi chỉ cho bộ phận kết nối toa bốn toa của ông này, hạ sĩ đây sẽ đi với bà ấy, dặn bên điều độ tháo mấy toa ấy và kéo riêng ra một chỗ đợi đến sáng mai nhé.

Bà Frosya vẫn ngồi xổm cạnh lò sưởi, quay gương mặt lớn, nhăn nhó về phía trung úy rồi trề môi.

— Được rồi, Vasil Vasilich, — Valia mỉm cười. Cô vẫn giữ ống nghe vì anh chưa buông tay cô ra. — Em bảo bà ấy đi liền.

— Còn bốn toa ấy thì cô thu xếp sao cho lên đường vào chuyến đầu tiên sáng mai. Cố gắng nhé.

— Được mà, Vasil Vasilich! — Valia cười rạng rỡ.

— Vậy là xong rồi! — trung úy thông báo với Dygin.

Bà Frosya thở dài sườn sượt như ống bễ lò rèn, rên rỉ rồi đứng dậy.

Dygin lặng lẽ đưa tay lên thái dương chào và cứ giữ tay như vậy. Ở con người y chẳng có vẻ gì là quân nhân cả, từ chiếc mũ với hai cái dải che tai lòng thòng.

— Anh mới được động viên à? Trước là công nhân phải không?

— Vâng, đúng thế. — Dygin nhìn trung úy với ánh mắt biết ơn.

— Anh nên đeo lon bên này nữa, — Zotov chỉ bên cổ áo của Dygin bị khuyết lon.

— Mất rồi, đã bị gẫy, thưa trung úy.

— Còn mũ nữa, hoặc buộc lại, hoặc lật lên, chứ cứ để thế à?

— Lật lên là thế nào? — bà Frosya đã chui vào áo mưa — Ngoài kia mưa thấy bà! Thôi đi nào, anh bạn!

— Rồi, chúc anh may mắn! Ngày mai sĩ quan khác trực ở đây, anh nhớ ốp ông ấy cho đi sớm.

Zotov trở về phòng, khép cửa lại. Mới bốn tháng trước đây thôi, anh còn chưa biết cách thắt dây lưng và còn thấy cái lối đưa tay lên chào của quân đội có vẻ kì cục và buồn cười thế nào ấy.

Khi Zotov bước vào, người khách không hoàn toàn đứng lên khỏi ghế, nhưng lại có cử chỉ như sẵn sàng đứng dậy khi cần thiết. Chiếc ba lô của ông bây giờ để trên sàn, còn chiếc nón kếp kẻ ca rô để ở trên.

— Ông cứ ngồi, cứ ngồi. — Zotov ngồi vào bàn — Xem nào...

Anh giở tờ giấy ra.

— Tôi... bị nhỡ tàu... — người khách nở một nụ cười có lỗi.

Zotov đọc tờ giấy, đây là giấy đi đường do sĩ quan chỉ huy ở Ryazhsk kí. Rồi anh nhìn người khách lạ, bắt đầu các câu hỏi kiểm tra thường lệ:

— Họ của ông là gì?

— Tveritinov.

— Tên, tên đệm?[4]

— Igor Dementievich.

— Ông năm nay ngoài năm mươi tuổi?

— Không, tôi mới bốn mươi chín.

— Chuyến tàu ông đi số bao nhiêu?

— Tôi không biết.

— Sao cơ, họ không thông báo cho ông?

— Không ạ.

— Vậy tại sao ghi ở đây? Ông đã đọc chưa? (Đó là chuyến 245413 đi Archeda mà Zotov đã cho đi đêm trước.)

— Dạ chưa. Ở Ryazhsk tôi chỉ nói chuyến tàu từ đâu và khi nào đến, rồi có lẽ ông sĩ quan chỉ huy đã đoán được.

— Ga trước ông đến là ga nào?

— Dạ ở Skopin.

— Rồi sự việc xảy ra thế nào?

— Không dám dấu gì ông... — nụ cười ngượng nghịu nở trên đôi môi đầy đặn của Tveritinov — lúc ấy tôi đi... đổi chác vài thứ... để lấy chút gì lót dạ... Quay lại thì tàu đã đi mất. Bây giờ chẳng còi, chẳng chuông, chẳng thông báo gì hết, cứ thế lặng lẽ đi.

— Việc xảy ra lúc nào?

— Ngày hôm kia.

— Và chưa kịp đuổi theo?

— Dạ chưa. Đuổi theo cách nào bây giờ? Mưa thế này không thể lên toa mui trần. Đứng ở cửa toa, chỗ mấy bậc thang thì gió khủng khiếp, lại bị lính canh xua đuổi. Các toa hàng thì họ không cho lên: hoặc không được phép, hoặc không có chỗ. Có lần tôi thấy chuyến tàu khách, hai người soát vé đứng trên bậc toa đẩy bất kì ai muốn bám vào chỗ tay vịn. Còn tàu hàng, lúc nào chạy thì đã trễ rồi không còn kịp lên, còn khi đứng thì không thấy đầu máy, không thể đoán được tàu chạy hướng nào. Tấm bảng sơn với dòng chữ “Moskva-Mineralnye Vody” như ngày xưa không còn nữa. Hỏi ai cũng không được, lôi thôi mọi người lại nghi là gián điệp, nhất là ăn mặc như tôi thế này... Nói chung thì ngày nay cứ hỏi han là nguy hiểm.

— Thời buổi chiến tranh mà, tất nhiên thôi.

— Trước chiến tranh cũng đã thế rồi.

— Tôi không để ý!

— Thật đấy, — Tveritinov gần như nheo mắt — nhất là sau hồi 1937.

— 1937 à? — Zotov ngạc nhiên — Năm 37 thì có gì nhỉ? Chiến tranh Tây Ban Nha phải không?

— À không... — Tveritinov lẩm bẩm và lại nở nụ cười như có lỗi.

Khăn quàng len xám của ông không thắt nút, hai đầu buông thõng xuống quá thắt lưng.

— Sao ông không mặc quân phục? Áo khoác lính của ông đâu?

— Tôi có được phát áo đâu... — Tveritinov mỉm cười.

— Ông lấy cái áo này ở đâu ra?

— Có người tốt bụng họ cho.

— Hm...mm... — Zotov nghĩ thầm — Phải nói là ông đến đây khá nhanh đấy. Sáng hôm qua còn ở chỗ sĩ quan chỉ huy Ryazhsk, mà tối nay đã ở đây rồi. Ông đi cách nào?

Tveritinov nhìn Zotov bằng đôi mắt mở to, tin cậy, ánh mắt dịu dàng. Zotov đặc biệt cảm thấy dễ chịu trước cái điệu bộ nói chuyện của ông ta, điệu bộ như dừng lại khi người đối thoại muốn phản đối điều gì; không bao giờ vung tay mà chỉ nhịp nhịp khẽ ngón tay để phụ họa cho lời nói của mình.

— Thật là may mắn quá chừng. Ở một ga nào đó tôi leo xuống từ một “toa sơ mi”... Trong hai ngày ấy tôi đã kịp “vỡ lòng” một ít thuật ngữ đường sắt. Trước đây tôi cứ hình dung “toa sơ mi” thì cũng phải mang dáng dấp gì đó của một toa tàu, chí ít thì cũng có nửa mái chẳng hạn... Tôi leo lên đó bằng một cái thang, rồi tôi thấy đơn giản đó là một cái “hố bằng sắt” không hơn không kém, một cái hốc trống trơn không biết ngồi vào đâu, không biết tựa vào đâu; toa ấy chứa than, đến khi tàu chạy, bụi than cuốn lên mù mịt. Thế là tôi được nếm mùi “toa sơ mi”, lại còn mưa nữa chứ...

— Vậy mà ông bảo là may mắn hả? — Zotov cười phá lên — Không hiểu nổi. Áo quần bôi lem nhem như thế!

Khi anh cười, hai nếp nhăn lớn bên mép chạy lên tận hai cánh mũi, trông rất phúc hậu.

— May mắn là bởi khi tôi ra khỏi “toa sơ mi”, rũ bụi than, rửa mặt mũi và nhận ra rằng người ta nối đầu máy vào toa tàu để đi xuống miền Nam. Tôi chạy dọc theo đoàn tàu, chẳng thấy toa hàng nào mở, các cánh cửa đều niêm phong. Bỗng tôi thấy có một đồng chí nào đó trèo ra, hình như đi tiểu, rồi lại leo trở vào một toa hàng lạnh lẽo còn chưa đóng. Tôi bắt chước theo. Thật lạ, ông tin được không, cả một toa đầy chăn len!

— Toa ấy không niêm phong sao?

— Không! Hình như lúc đầu chăn mền buộc thành từng bó năm hay mười cái, nhưng lúc tôi vào thì nhiều bó bị gỡ tung ra hết rồi, và có thể dùng mà quấn ấm lắm. Một số người đang ngủ trong đó!

— Ái chà chà!

— Tôi cũng chui vào ba bốn cái chăn một lúc, rồi đánh một giấc khoảng một ngày đêm! Tàu đi hay ngừng tôi cũng chẳng biết. Ngoài ra hôm ấy là hôm thứ ba tôi chưa được lãnh khẩu phần. Tôi cứ thế ngủ li bì, quên cả chiến tranh, quên hết mọi thứ xung quanh... Tôi mơ thấy những người thân...

Khuôn mặt râu ria lởm chởm, nhăn nheo của ông rạng rỡ hẳn lên.

— Khoan! — Zotov đứng phắt dậy khỏi ghế — Như vậy là ông đến bằng chuyến tàu ấy... Vào lúc nào nhỉ?

— Khoảng chừng... Tới nơi là tôi đến văn phòng ông ngay.

Zotov phóng ra cửa và xô mạnh cánh cửa:

— Valia! Valia! Chuyến tàu đi Balashov số bao nhiêu, một ngàn... bao nhiêu nhỉ?

— Một không không hai.

— Còn đây không?

— Đi rồi.

— Có chắc không?

— Chắc chắn.

— Quỷ tha ma bắt! — anh ôm đầu — Ta ngồi chết dí ở đây, quan liêu một cách đáng nguyền rủa, suốt ngày chúi vào mấy tờ giấy, chẳng xem xét kiểm tra gì cả, phí cơm nhà nước! Gọi dây nói đến Michurinsk-Uralsky ngay nhé!

Anh nhảy bổ về phòng mình rồi hỏi Tveritinov:

— Ông có nhớ toa số mấy không?

— Không ạ. — Tveritinov mỉm cười.

— Toa hai trục hay bốn trục?

— Tôi không hiểu gì về...

— Có gì mà không hiểu! Toa lớn hay nhỏ? Bao nhiêu tấn?

— Như thời nội chiến người ta nói: “Bốn mươi người, tám ngựa”.

— Vậy là toa mười sáu tấn rồi. Có hộ tống không?

— Hình như không thì phải.

— Vasil Vasilich! — Valia gọi vọng sang — Nhân viên điều độ quân sự đang ở đầu dây. Ông cần gặp sĩ quan chỉ huy không?

— Không nhất thiết phải chỉ huy trưởng đâu, chưa chắc phải hàng quân đội.

— Vậy nếu ông cho phép, để em làm rõ việc này?

— Được, Valia, cô làm đi. Có thể số chăn ấy đơn giản là chuyển đi thôi, ai biết được. Bảo họ đi xem thật kĩ, tìm toa đó, xác định hàng của ai, lập bản kê khai rồi niêm phong lại, tóm lại là xem xét tìm hiểu!

— Được ạ, Vasil Vasilich.

— Làm ơn nhé, Valechka. Cô thật tháo vát, quý hóa quá!

Valia mỉm cười với anh. Những lọn tóc quăn lòa xòa trước mặt.

— A lô! Michurinsk—Uraisky!..

Zotov đóng cửa lại, vẫn còn bức xúc, đi đi lại lại trong phòng, hai nắm tay đấm đấm vào nhau.

— Việc không sao giải quyết hết được, — anh hậm hực — thế mà họ không cho thêm người nào phụ giúp! Số chăn ấy ai mà biết có bị mất cắp không. Có khi không còn đủ số.

Anh còn đi lại một lúc lâu rồi mới chịu ngồi. Anh bỏ kính xuống, lấy miếng vải lau. Vẻ ưu tư công việc lập tức biến mất trên gương mặt giờ đây trông như khuôn mặt trẻ thơ, còn mỗi chiếc mũ lưỡi trai màu xanh che chở.

Tveritinov vẫn kiên nhẫn ngồi đợi. Ông đảo ánh mắt buồn bã lên rèm cửa sổ bằng giấy, bức chân dung Kaganovich trong bộ đồng phục “nguyên soái” ngành đường sắt, lò sưởi, xô than, xẻng xúc than. Trong căn phòng quá ấm này, chiếc áo khoác đầy bụi than bắt đầu làm ông khó chịu. Ông tuột áo khỏi vai, tháo khăn quàng cổ.

Trung úy đeo kính và lại nhìn vào tờ giấy đi đường. Về bản chất, giấy đi đường không thể coi là một loại giấy tờ tùy thân, nó được lập theo lời của người khai và nội dung của nó có thể là sự thật mà cũng có thể là man trá. Quy chế yêu cầu là phải hết sức cẩn thận đối với những người từng trong vòng vây quân Đức, đặc biệt với những người đi riêng lẻ. Tveritinov không thể chứng minh được ông ta lỡ chuyến tàu ở Skopin. Ngộ nhỡ Pavelets thì sao? Và trong khoảng thời gian đó ông ta đã có thể đi Moskva hay một nơi nào đó để nhận nhiệm vụ rồi.

Việc đến đây nhanh như thế đang là yếu tố có lợi cho ông ta.

Nhưng lấy gì đảm bảo đúng là ông ta đến từ chuyến tàu đó?

— Giả dụ như bây giờ mà đi tiếp trên chuyến đó thì ấm lắm nhỉ?

— Phải. Tôi rất thoải mái được đi tiếp như vậy.

— Thế tại sao ông lại bỏ xuống đây?

— Để trình diện ông. Ở Ryazhsk người ta lệnh tôi thế.

Trên cái đầu lớn của Tveritinov mọi đường nét cũng đều lớn: trán cao và rộng, lông mày rậm và lớn, mũi lớn. Cằm và má lởm chởm những sợi râu màu xám bạc.

— Làm cách nào ông biết đây là Kochetovka?

— Có một anh người Georgia nằm ngủ cạnh tôi cho biết.

— Anh ta là lính à? Cấp bậc ra sao?

— Tôi không biết, anh ta trùm chăn kín mít thò mỗi cái đầu ra ngoài. Câu trả lời của Tveritinov đượm một nỗi buồn, như thể cứ với mỗi câu trả lời là ông ta mất đi một cái gì đó.

— Thôi được. — Zotov đặt tờ giấy sang một bên — Ngoài ra ông còn giấy tờ gì khác không?

— Không còn gì khác, — Tveritinov mỉm cười buồn bã — Lấy đâu ra giấy tờ được chứ?

— Không còn... gì sao?

— Khi bị bao vây, chúng tôi đã phải hủy hết rồi, ai có gì hủy nấy.

— Nhưng bây giờ, khi ông trở về lãnh thổ Xô-viết, người ta phải cấp lại tận tay chứ?

— Chẳng có gì cả. Họ chỉ lập danh sách, chia thành từng nhóm bốn mươi người rồi đưa đi.

Sự việc đúng là như vậy. Khi một người chưa bị rớt lại, thì anh ta còn là một thành viên của nhóm bốn mươi người, anh ta cần gì giấy tờ.

Nhưng Zotov vẫn còn muốn khẳng định cái cảm tình mang tính bản năng của mình đối với người đàn ông có giáo dục, hoàn toàn xứng đáng này bằng một chứng cớ mang tính vật chất nào đấy.

— Một thứ gì đó! Trong túi của ông còn sót lại mảnh giấy nào không, gì cũng được?

— Không... Chỉ có vài cái ảnh gia đình...

— Cho tôi xem! — không phải mệnh lệnh, mà là yêu cầu của trung úy.

Tveritinov hơi nhướng mày lên. Ông ta mỉm cười, vẫn nụ cười như lúc nãy, có vẻ lúng túng, rồi vẫn lấy ra trong túi áo ấy (túi bên kia bị mất nút) một gói giấy phẳng phiu màu cam. Ông ta mở gói giấy đặt trên đầu gối, lấy ra hai tấm ảnh khổ 9x12, ngắm nghía từng tấm một, rồi đứng dậy đưa cho Zotov, dù ghế ông ta sát ngay bàn trung úy, Zotov nghiêng người về trước cầm mấy tấm ảnh. Anh bắt đầu ngắm nghía, Tveritinov vẫn cầm miếng giấy gói trên đầu gối, vươn thẳng lưng lên để ngắm hai bức ảnh từ xa.

Một tấm chụp cảnh ngôi vườn nhỏ trong một ngày nắng, có lẽ một ngày đầu xuân, vì những chiếc lá còn non, và còn có thể trông thấy phông đằng sau xuyên qua những lùm cây, một cô bé mười bốn tuổi mặc chiếc áo váy sọc xám nhạt thắt nơ ngang lưng. Chiếc cổ dài thanh mảnh vươn khỏi cổ áo hở, khuôn mặt gầy gầy hơi cúi xuống trên tấm ảnh, mặc dù bất động, nhưng có cảm giác như cô bé vừa rùng mình. Trong tấm ảnh có một cái gì đó còn non nớt, khó diễn tả thành lời, khiến tấm ảnh có vẻ không vui, nặng nề.

Zotov thấy thích cô bé ở trong ảnh lắm. Môi anh trễ xuống.

— Cô bé tên gì? — anh hỏi khẽ.

Tveritinov ngồi, hai mắt nhắm nghiền.

— Lalya, — giọng ông trả lời còn khẽ hơn. Sau đó mở mắt và chữa lại: Irina.

— Ảnh chụp khi nào?

— Đầu năm nay.

— Ở đâu vậy?

— Ngoại ô Moskva.

Nửa năm rồi! Nửa năm đã trôi qua từ cái phút, khi người ta nói: “Lalyenka, bấm này!” và tách... Và từ đó đến nay hàng vạn họng súng đã gầm thét, hàng triệu nắm đất đen bị xới tung lên, hàng triệu con người quay cuồng trong cái vòng quay đáng nguyền rủa, những con người cuốc bộ từ Litva, những con người đi tàu từ Irkutsk. Và giờ đây từ nhà ga này, nơi gió lạnh thổi tung lẫn lộn vừa mưa vừa tuyết, nơi những đoàn tàu rền rĩ, nơi những con người cả ngày lang thang vô nghĩa, đêm xuống lại lăn ra sàn ngủ mê mệt, làm sao có thể tin được rằng ngôi vườn nhỏ này, cô gái bé bỏng này, bộ áo váy kẻ sọc này lại có thể tồn tại được trên thế gian?!

Tấm ảnh thứ hai chụp người phụ nữ và một cậu bé ngồi trên chiếc đi văng, cả hai đang xem một cuốn sách hình thật lớn. Người mẹ gầy gầy, thanh mảnh, có vẻ cao, trong khi cậu bé bẩy tuổi lại có gương mặt rắn rỏi, thông minh, vẻ khôn trước tuổi thể hiện qua cách cậu bé không nhìn vào quyển sách hình mà lại nhìn bà mẹ, đang giảng giải điều gì cho nó. Hai mắt thằng bé rất lớn, giống như mắt cha nó.

Nhìn chung, tất cả mọi người trong cái gia đình này dường như là những người được chọn lọc. Bản thân Zotov cũng chưa bao giờ có dịp được biết một gia đình như thế, nhưng trong kí ức nhỏ bé của anh còn mơ hồ lưu lại một vài hình ảnh như trong bảo tàng Tretyakovsky, hay trong nhà hát, hay trong tiểu thuyết, về sự hiện hữu của những gia đình ấy. Sự thông thái của họ toát ra từ hai tấm ảnh này.

Trả lại hai tấm ảnh, anh nhận xét:

— Ông thấy nóng rồi. Sao không cởi bớt áo ra!

— Xin phép ông — Tveritinov cởi áo khoác ra. Ông lúng túng không biết để đâu.

— Ông để ở đó — Zotov chỉ tay về chiếc đi văng, thậm chí còn làm cử chỉ như muốn đỡ chiếc áo để lên đó.

Bây giờ thì có thể thấy được bộ quân phục mùa hè thiểu não, luộm thuộm của ông ta với những hột nút khác nhau, xà cạp được quấn một cách vụng về, những vòng quấn lỏng quá tuột cả xuống. Toàn bộ trang phục của ông như muốn chế diễu cái đầu to tướng mầu xám.

Zotov không dấu được thiện cảm với con người có cách cư xử lễ phép đúng mực này, ngay từ phút đầu tiên khi giọng nói êm ái của ông ta cất lên.

— Trước kia ông làm gì? — anh hỏi với vẻ kính trọng. Buồn bã gói mấy tấm ảnh vào tờ giấy màu cam, Tveritinov bật cười với câu trả lời:

— Tôi là nghệ sĩ.

— Ái chà! Zotov sửng sốt — Thế mà tôi không đoán ra ngay nhỉ! Ông rất giống một nghệ sĩ! (Bây giờ thật ra ông ta chẳng giống một nghệ sĩ chút nào.)

— Nghệ sĩ công huân phải không?

— Dạ không phải.

— Ông thường diễn ở đâu?

— Nhà hát kịch Moskva.

— Ở Moskva tôi có đến Nhà hát kịch một lần trong chuyến tham quan. Nhưng tôi thường xem diễn ở Ivanovo. Ông có diễn ở nhà hát mới tại Ivanovo bao giờ chưa?

— Dạ chưa.

— Bên ngoài thì chẳng có gì đặc biệt, một cái hộp xám, bê tông cốt thép, nhưng bên trong thì tuyệt vời! Tôi rất thích đi nhà hát, không đơn thuần là giải trí, mà là để học hỏi, đúng không nào?

(Đã đành là người ta đang giục nộp biên bản về đoàn tàu bị ném bom cháy để phục vụ công tác điều tra, nhưng kiểu gì cũng phải mất trọn hai ngày mới giải quyết xong. Như vậy có lãng phí chừng một giờ đồng hồ để làm quen với một nghệ sĩ lớn cũng chẳng sao!)

— Ông hay diễn những vai nào?

— Nhiều vai lắm, — Tveritinov mỉm cười, vẻ không vui — Chẳng thể nào kể hết ra được qua chừng ấy năm.

— Một vai nào đó, ví dụ?

— Chẳng hạn... vai trung tá Vershinin... vai bác sĩ Rank...

— Hm...mm... (Zotov không nhớ những vai ấy.) Ông có diễn trong những vở của Gorky không?

— Đương nhiên rồi, khỏi phải bàn.

— Tôi thích nhất là kịch của Gorky, nói chung là Gorky! Nhà văn lớn nhất, thông minh nhất, nhân văn nhất của chúng ta, ông đồng ý chứ?

Tveritinov hơi nhíu mày, cố tìm câu trả lời nhưng không được, đành im lặng.

Hình như tôi còn biết tên tuổi của ông. Ông bảo không phải là nghệ sĩ công huân?

Zotov hơi đỏ mặt vì thấy hài lòng về cuộc nói chuyện.

— Nếu như tôi là nghệ sĩ công huân, — Tveritinov thiếu chút nữa là phủi hai bàn tay — thì có lẽ bây giờ tôi đã chẳng ngồi đây.

— Sao vậy? À, phải rồi, người ta không gọi ông nhập ngũ.

— Người ta không gọi chúng tôi. Chúng tôi tình nguyện nhập ngũ.

— Chắc các nghệ sĩ công huân cũng tình nguyện nhập ngũ?

— Ai cũng tình nguyện hết, kể cả các đạo diễn chính cũng vậy, nhưng có ai đó gạch một vạch vào danh sách, những ai nằm trên vạch thì ở lại, còn dưới vạch thì đi.

— Ông đã được huấn luyện quân sự bao giờ chưa?

— Vài ngày thôi. Chúng tôi được học chiến đấu bằng lưỡi lê, bằng gậy, ném lựu đạn... bằng gỗ thôi.

Đôi mắt Tveritinov đăm đăm hướng vào một điểm trên sàn nhà, đến nỗi trông bất động như hai hòn bi ve.

— Rồi sau đó người ta có cấp vũ khí cho ông không?

— Có, họ phát súng trường từ lúc còn huấn luyện, loại súng năm 1891. Chúng tôi đi bộ đến tận Vyazma. Tại đấy chúng tôi bị lọt ổ phục kích.

— Nhiều người hi sinh không?

— Tôi nghĩ phần lớn bị bắt sống. Một nhóm nhỏ chúng tôi nhập với một đơn vị từ mặt trận về, họ đưa chúng tôi đi. Bây giờ tôi cũng không hình dung mặt trận là chỗ nào nữa. Ông có bản đồ không?

— Không có bản đồ, các thông cáo thì không rõ ràng, nhưng tôi có thể nói cho ông: chúng ta đang kiểm soát Sevastopol và một ít ở vùng quanh đó, chúng ta còn Taganrog, Donbass vẫn còn trong tay quân ta... Nhưng địch chiếm Oriol và Kursk...

— Ôi chao! Còn ngoại ô Moskva thì sao?

— Khó mà biết được tình hình ngoại ô Moskva. Các hướng đi hầu như chỉ còn đến khu vực ngoại ô. Còn đường đi Leningrad thì hoàn toàn bị cắt đứt...

Trán và cả vùng mắt của Zotov nhăn lại vẻ đau khổ:

— Thế mà tôi lại không được ra mặt trận!

— Rồi đến lúc ông sẽ được ra mặt trận.

— Chẳng lẽ chỉ vì chiến tranh sẽ không thể kết thúc trong vòng một năm.

— Trước kia ông là sinh viên?

— Vâng. Chúng tôi đã bảo vệ luận án tốt nghiệp ngay từ những ngày đầu chiến tranh! Đáng lí ra chúng tôi phải bảo vệ vào tháng Chạp, nhưng nhà trường thông báo: bảo vệ luôn thôi, ai có bản vẽ, tính toán gì thì cứ mang đến, cho qua hết. — Zotov cảm thấy hào hứng, đụng gì kể nấy, lời nọ lẫn sang lời kia — Chỉ trong vòng năm năm... Chúng tôi vào trường đại học — Franco khởi đầu cuộc nổi dậy! Rồi họ đầu hàng quân Áo! Tiệp Khắc! Rồi chiến tranh thế giới bùng nổ! Và chiến tranh Phần Lan! Hitler tràn vào nước Pháp! vào Hi Lạp! vào Nam Tư!... Với cái tinh thần như thế liệu chúng tôi có thể tập trung nghiên cứu máy dệt được không?! Nhưng vấn đề không phải ở đấy. Ngay sau khi bảo vệ luận án tốt nghiệp, họ cử lứa chúng tôi đi học khóa cơ khí động lực do Học viện quân sự đào tạo, nhưng tôi không được nhận vì cận nặng quá. Vì thế, tôi đến vận động ban chỉ huy quân sự mỗi ngày. Tôi đã có kinh nghiệm từ năm 1937... Điều duy nhất tôi đạt được là tấm giấy giới thiệu đến Viện khí tài. Cũng được. Cầm tờ giấy giới thiệu ấy tôi đi Moskva, và trình diện ở Bộ Quốc phòng. Tôi được gặp một ông đại tá già để phỏng vấn, lúc vào thì ông ta đã vội lắm rồi, ông đang đóng cặp táp. Tôi nói tôi không muốn học ngành tiếp tế vì tôi là một kĩ sư. “Cho tôi xem bằng tốt nghiệp!”. Bằng tốt nghiệp lại không đem theo... “Thôi được, tôi sẽ hỏi đúng một câu, trả lời được thì đúng là kĩ sư: tay quay là cái gì?”. Tôi vừa mới trả lời: “Là một bộ phận gắn vào trục quay nối một thanh truyền...”. Ông ta xóa chữ “Khí tài”, và viết “Viện Vận chuyển”. Rồi ông chạy ra ngoài với chiếc cặp trên tay. Tôi mừng quá! Nhưng khi đến Viện Vận chuyển thì không còn lựa chọn nào khác, chỉ còn khóa đào tạo sĩ quan quân vận. Cái tay quay cũng chẳng giúp được gì nhiều!

Vasia biết đây không phải là lúc ngồi tán gẫu nhắc chuyện ngày xưa, nhưng rất hiếm khi nào có cơ hội để trút bầu tâm sự với một người trí thức, biết quan tâm đến người khác.

— Hình như ông có hút thuốc? — Vasia sực nhớ — Ông cứ tự nhiên nhé... — anh liếc nhìn tờ giấy đi đường — Igor Dementievich, thuốc đây, giấy quấn nữa, họ phát cho tôi, nhưng tôi không hút.

Anh rút từ ngăn kéo bàn một gói thuốc lá loại nhẹ, đẩy lại phía Igor Dementievich.

— Vâng, tôi có hút thuốc, — Igor Dementievich thú nhận, vẻ mặt ông rạng ngời trước việc sắp được thưởng thức. Ông ngồi thẳng lên, cúi nhìn gói thuốc, nhưng thay vì quấn ngay một điếu thì ông lại hít hít một cách say sưa để thưởng thức hương vị thuốc lá, dường như suýt bật ra tiếng rên. Rồi ông đọc nhãn hiệu gói thuốc, gật gù:

— Thuốc Armenia đây...

Rồi ông vấn một điếu lớn, thè lưỡi liếm cạnh tờ giấy, Vasia bật diêm cho ông.

— Khi cuộn tròn trong đống chăn ấy, chắc không ai hút thuốc chứ? — Zotov hỏi dò.

— Tôi không thấy, — Igor Dementievich đang say sưa thưởng thức — Có lẽ không ai có thuốc cả.

Ông tiếp tục hút, hai mắt lim dim.

— Ý ông nhắc đến năm 1937 là thế nào? — ông hỏi.

— Ông nhất định phải nhớ cái không khí của những năm ấy! — Vasia nồng nhiệt — Chiến tranh Tây Ban Nha nổ ra, bọn phát xít chiếm đóng Làng sinh viên Madrid. Lữ đoàn quốc tế, Guadalajara, Jarama, Teruel! Khó lòng mà ngồi yên được! Chúng tôi yêu cầu mở lớp dạy tiếng Tây Ban Nha, nhưng họ lại dạy tiếng Đức. Tôi kiếm được giáo trình, từ điển, cặm cụi tự học tiếng Tây Ban Nha, thay vì chuẩn bị cho kì thi. Tôi cảm thấy chúng tôi phải tham gia, ý thức cách mạng không cho phép chúng tôi đứng bên lề sự kiện! Nhưng báo chí chẳng đả động gì. Làm thế nào để đến được đấy? Chạy xuống Odessa rồi trốn lên tàu thì quả là một ý tưởng trẻ con, rồi còn lực lượng biên phòng. Thế nên tôi đến ban chỉ huy quân sự vùng bốn, vùng ba, vùng hai, vùng một, đề nghị các vị tư lệnh gửi tôi qua Tây Ban Nha. Họ đều cười và bảo tôi có mất trí không, ở đấy làm gì có người của ta, anh định làm gì ở đấy?! Ấy, tôi thấy ông có vẻ thích hút thuốc, ông cứ giữ cả gói mà hút. Thuốc ấy tôi chỉ để mời mọi người thôi, vả lại ở nhà tôi cũng còn. Ồ không, ông cứ cất vào ba lô, sẽ có lúc phải dùng, tôi tin chắc như vậy. Thời buổi này điếu thuốc là “giấy thông hành”, rất hữu dụng lúc đi đường... Rồi bỗng tôi hiểu ra vấn đề khi đọc tờ Sao Đỏ, hồi ấy vớ được tờ nào là tôi đọc sạch tờ ấy, một trích đoạn của phóng viên người Pháp: “Đức và Liên Xô cùng nhìn Tây Ban Nha như một vùng đất để thử nghiệm chiến tranh”. Tôi rất sốt ruột. Tôi mượn thư viện số báo ấy, suốt ba ngày trời tôi đợi xem có đính chính của ban biên tập không. Nhưng không có. Thế là tôi lại đến ban chỉ huy quân sự, chìa tờ báo ra cho họ: “Các ông đọc xem. Không có đính chính gì tiếp theo có nghĩa đây là sự thật, quân ta đang chiến đấu ở đó. Đề nghị cho tôi qua Tây Ban Nha với tư cách người cầm súng”. Ông chỉ huy đập bàn một cái rầm: “Không được đến đây gây rối! Ai bảo anh đến đây? Nếu cần chúng tôi sẽ gọi! Bây giờ đằng sau qua...a...ay!”

Nhắc lại việc ấy, Vasia cười thoải mái. Nếp nhăn ở khóe miệng lại hiện ra trên mặt anh. Anh cảm thấy rất dễ chịu khi nói chuyện với ông nghệ sĩ này, và còn muốn kể thêm về chuyện mấy tay thủy thủ Tây Ban Nha, về việc anh bập bẹ trả lời họ bằng tiếng Tây Ban Nha như thế nào. Anh cũng muốn hỏi ông về cảm giác khi bị quân Đức bao vây, đại khái là nói về tình hình diễn biến chiến tranh với một người thông minh, có học thức.

Nhưng Podshebyakina mở cửa:

— Vasil Vasilich! Phòng điều độ hỏi ông có hàng hoá gì gửi đi với chuyến 794 không? Nếu không, thì ta cho ra chỗ xuất phát luôn. Zotov nhìn vào lịch trình:

— Chuyến này đi đâu? Đi Povorino phải không?

— Đúng thế.

— Đã tới chưa?

— Mười phút nữa tàu tới.

— Chuyến này hàng của chúng ta ít lắm. Ngoài ra còn gì không?

— Có hàng công nghiệp và vài toa hành khách.

— Ồ, hay thật! Igor Dementievich, tôi sẽ gửi ông đi chuyến này! Chuyến này rất tiện cho ông, không cần phải chuyển tàu gì hết. Valechka, hàng của tôi đã đủ cả rồi, có thể cho chuẩn bị khởi hành. Tôi muốn họ cho tàu đậu lại gần, đường một hoặc đường hai, cô bảo họ thế.

— Vâng, Vasil Vasilich.

— Cô đã nói với họ về chuyện chăn mền chưa?

— Đã xong, Vasil Vasilich.

Valia đi ra.

— Tiếc quá, không có gì để mời ông cả, đến một cái bánh quy nhỏ cũng chẳng có nốt. — Zotov kéo ngăn bàn giấy ra, như để xem ngộ nhỡ còn miếng bánh nào sót lại không. Khẩu phần ăn của anh là khẩu phần bình thường, cả bánh mì đem vào trong ca trực, anh đã ăn hết từ sáng. — Chắc từ khi bị lỡ tàu đến giờ ông vẫn chưa ăn gì?

— Lạy Chúa, xin ông đừng lo, Vasil Vasilich. — Tveritinov đặt bàn tay với năm ngón xòe ra như hình rẻ quạt lên ngực áo bẩn thỉu đơm những hột nút khác nhau — Tôi biết ơn ông vô cùng — ánh mắt và giọng nói của ông không còn đượm nỗi buồn — Ông làm ấm lòng tôi, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ông tốt bụng quá. Thật đáng quý trong thời buổi khó khăn này. Nhưng bây giờ làm ơn chỉ cho tôi biết phải đi tới đâu, và sau đó tôi phải làm gì?

— Trước hết, ông phải đến ga Gryazi — Zotov nhiệt tình giải thích — Tiếc là không có bản đồ để chỉ cho ông rõ. Ông hình dung được nơi đó không?

— Tôi không chắc lắm... Hình như tôi có nghe qua cái tên.

— Vâng ga ấy cũng nổi tiếng. Nếu ông đến Gryazi vào ban ngày, ông hãy đem tờ giấy đi đường này, tôi đã chứng thực trong đó là ông đã tới chỗ chúng tôi rồi, đến gặp ban chỉ huy quân vận, họ sẽ cấp cho ông một phiếu để xuống kho quân nhu, vậy là ông sẽ nhận được khẩu phần trong hai ngày.

— Cảm ơn ông rất nhiều!

— Nếu đến đó vào ban đêm, hãy ngồi yên trên tàu, đừng xuống! Lúc ấy ông cứ quấn chăn mà ngủ, không thức dậy thì người ta sẽ chở đi tiếp! Từ Gryazi tàu tiếp tục đến Povorino, nhưng ở Povorino rồi, ông cũng đừng rời tàu trừ trường hợp đi nhận khẩu phần của mình, đừng bị trễ tàu lần nữa, sau đó thì tàu sẽ đưa ông tới Archeda. Archeda chính là nơi chuyến tàu 245413của ông phải tới.

Zotov trao lại cho Tveritinov tờ giấy đi đường.

Cất tờ giấy vào chỗ cũ trong túi áo, bên có khuy cài, Tveritinov hỏi:

— Archeda? Tôi chưa từng nghe đến cái tên này. Ở chỗ nào vậy ạ?

— Đó là vùng ngoại ô Stalingrad.

— Ngoại ô Stalingrad, — Tveritinov gật gù, nhưng trán ông nhăn lại. Cố gắng cũng vô ích, ông hỏi lại — Ông cho phép hỏi... Stalingrad... trước đây gọi là gì ạ?

Zotov bỗng cảm thấy rúng động và lạnh toát cả người. Có lẽ nào? Một công dân Xô-viết mà lại không biết Stalingrad? Thật là ngoài sức tưởng tượng! Tuyệt đối không thể! Không thể nào chấp nhận được!

Tuy nhiên, anh cũng biết trấn tĩnh và kiềm chế. Anh ngồi thẳng lên, sửa lại kính và bình tĩnh trả lời:

— Trước kia là Tsaritsyn.

(Nghĩa là người này không phải là một chiến sĩ Hồng quân từng bị quân Đức bao vây. Được cài vào! Một gián điệp! Một cựu Bạch vệ cũng nên, thế mới có những cử chỉ như vậy.)

— À, phải rồi, Tsaritsyn. Phòng tuyến Tsaritsyn.

(Một sĩ quan Bạch vệ ngụy trang cũng nên? Lại hỏi về bản đồ... Nhưng ngụy trang với mớ quần áo lôi thôi này thì quá đáng thật.)

Mấy tiếng “sĩ quan Bạch vệ” đầy căm thù này, hầu như đã bị loại khỏi hội thoại tiếng Nga từ lâu lắm rồi, tạo cho Zotov cảm giác như bị đâm lê.

(Chà, lộ tẩy rồi! Lộ tẩy rồi! Phải bình tĩnh. Phải sáng suốt. Phải làm gì tiếp theo đây?)

Zotov nhấn một hồi dài vào điện thoại nội bộ.

Áp ống nghe vào tai, hi vọng đầu bên kia đại úy sẽ nhấc máy.

Nhưng đại úy không nhấc ống nghe.

— Vasil Vasilich, thật tình ngại quá khi phải xin ông điếu thuốc nữa.

— Không sao, ông cứ tự nhiên. — Zotov xua tay — (Mẹ kiếp! Lại còn phải lo làm gì cho địch vui lòng.)

— Vâng, nếu vậy cho phép tôi hút thêm điếu nữa. Hay là tôi ra ngoài?

(Muốn ra ngoài? Rõ như ban ngày rồi! Biết hớ hênh rồi, và bây giờ định đánh bài chuồn đây.)

— Không, không sao, ông cứ việc hút ở đây. Tôi thích mùi khói thuốc lắm.

(Phải nghĩ cách? Phải làm gì đây?)

Anh ấn nút điện thoại ba lần. Đầu kia nhấc ống nghe:

— Trạm gác nghe!

— Zotov đây.

— Vâng, đồng chí trung úy.

— Guskov có đó không?

— Ông ấy vừa... ra ngoài rồi, thưa đồng chí trung úy.

— Đi đâu? Ra ngoài nghĩa là sao? Làm gì thì làm, trong vòng năm phút nữa anh ta phải có mặt tại vị trí.

(Lại đi tán gái rồi, đồ khốn!)

— Tuân lệnh, thưa trung úy!

(Phải nghĩ ra cái gì chứ!)

Zotov lấy một mảnh giấy, che người để Tveritinov không trông thấy, viết trên đó dòng chữ lớn: “Valia! Vào phòng, rồi bảo rằng chuyến 794 đến trễ một tiếng”.

Anh gấp mảnh giấy, cầm đến cửa, thò tay qua và bảo Valia:

— Đồng chí Podshebyakina! Cầm lấy. Về chuyện vận chuyển khi nẫy.

— Chuyến nào ạ, Vasil Vasilich?

— Số hiệu ghi trên đó!

Podshebyakina ngạc nhiên, đứng dậy và cầm mảnh giấy. Zotov quay lại ngay. Tveritinov lúc ấy đã mặc áo khoác.

— Ta không để lỡ chuyến tàu này, phải không ạ? — ông mỉm cười thân thiện.

— Không, người ta sẽ báo trước.

Zotov đi đi lại lại trong phòng, tránh không nhìn Tveritinov. Anh sửa lại tà áo phía sau bên dưới thắt lưng, xoay bao súng từ phía sau qua bên phải, sửa lại chiếc mũ trên đầu cho ngay ngắn. Hoàn toàn chẳng còn gì để làm và cũng chẳng còn gì để nói.

Zotov không biết nói dối.

Anh mong Tveritinov nói điều gì đó, nhưng ông ta lại im lặng một cách khiêm tốn.

Ngoài cửa sổ, thỉnh thoảng tia nước lại róc rách từ máng xối, bị gió làm bắn tung tóe.

Trung úy dừng lại bên bàn, một tay vịn góc bàn, lặng lẽ nhìn mấy ngón tay của mình.

(Cần phải nhìn Tveritinov bằng con mắt như lúc trước để ông ta không cảm thấy có gì thay đổi, nhưng anh không thể nào buộc mình làm thế được).

— Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ rồi! — anh nói và căng thẳng đợi câu trả lời.

(Nào, hỏi “Lễ gì?” đi. Lúc ấy thì chẳng còn gì nghi ngờ gì nữa.)

Nhưng người khách lại đáp:

— Phải...

Trung úy liếc nhìn người khách. Ông vừa hút thuốc vừa tiếp tục gật gù.

— Không hiểu năm nay có diễu hành ở Quảng trường Đỏ không nhỉ?

(Diễu hành gì vào thời điểm này! Anh cũng chẳng nghĩ ngợi gì về điều đó, đơn giản là nói cho qua chuyện.)

Có tiếng gõ cửa.

— Xin lỗi, Vasil Vasilich! — Valia thò đầu vào. Vừa trông thấy cô, Tveritinov với tay lấy cái ba lô của ông. — Chuyến 794 bị trễ ở chặng chót. Một giờ nữa mới đến đây.

— Ừmm! Rầy rà bực mình thật. (Anh bực mình với giọng nói giả dối của mình) — Thôi được, cảm ơn đồng chí Podshebyakina.

Valia lui ra.

Ngoài cửa sổ, trên đường số một, có thể nghe được tiếng phì phì của đầu máy đang chạy chậm để dừng lại và tiếng va chạm của các toa tàu dồn vào nhau; tiếng mặt đất rung nhè nhẹ.

— Phải làm gì bây giờ? — suy nghĩ của Zotov bật thành tiếng — Tôi phải xuống kho bây giờ.

— Vậy để tôi ra ngoài, tôi sẽ đi loanh quanh đâu đó — Tveritinov vui vẻ nói, mỉm cười và đứng lên với chiếc ba lô trong tay.

Zotov nhấc áo khoác ra khỏi chiếc đinh treo trên tường.

— Ông ra ngoài làm gì cho lạnh? Vào phòng đợi cũng không được đâu, người ta nằm xếp lớp trên sàn. Nếu ông muốn thì đi với tôi xuống kho vậy?

Những lời vừa rồi nghe có vẻ không thuyết phục, nên anh nói thêm, mặt nóng bừng:

— Có thể tôi... xoay xở được gì ở đó... cho ông ăn.

Có thể câu nói không hẳn làm Tveritinov vui mừng! Nhưng ông ta tỏ vẻ phấn khởi:

— Như vậy thì ông tốt quá sức mong đợi rồi. Tôi thật không dám đòi hỏi gì.

Zotov quay đi, xem lại bàn giấy, cánh cửa két sắt, rồi tắt đèn:

— Ta đi thôi.

Vừa khoá cửa, anh vừa bảo Valia:

— Nếu chỗ điện tín viên gọi, cô bảo là tôi quay lại ngay!

Tveritinov bước ra trước, trên người vẫn khoác chiếc áo lạ lùng và đôi xà cạp quấn vụng về.

Qua dãy hành lang tối và lạnh với ngọn đèn màu xanh, họ bước ra sân ga.

Trong bóng đêm đen ngòm, dưới bầu trời mù mịt, những hạt không ra mưa mà cũng không ra tuyết, ẩm ướt, nặng trĩu, rơi xuống xiên xiên.

Đoàn tàu đỗ ngay đường số một, đen thẫm, đen hơn cả bầu trời, nên vẫn còn có thể nhận ra đường nét của mui và các toa tàu. Phía bên trái là đầu máy, khoang chứa than sáng rực, tàn tro hồng nóng dãy rơi xuống đường ray và lập tức bị gió cuốn đi ngay. Xa hơn và cao hơn là một ngọn đèn tròn màu xanh trơ trọi treo ở đấy mà như không dính vào đâu cả. Bên phải, phía đuôi tàu, trên các toa đâu đó phựt lên những tia lửa đỏ. Ở phía những tia lấp lánh sống động ấy, những dáng người, phần lớn là phụ nữ, tất tả đi lại trên sân ga. Hơi thở nặng nhọc của họ hòa lẫn vào nhau thành một âm thanh vô hình, hổn hển, gấp gáp. Họ lôi theo sau những đứa trẻ, đứa khóc lóc, đứa im lặng. Hai bóng người xấn xổ, đẩy Zotov dạt ra một bên, hình như họ khiêng một cái rương lớn. Đằng sau họ có mấy người khác đang kéo một thứ gì đó còn nặng hơn bằng một sợi dây. (Vào thời điểm này, khi sự đi lại đã trở nên nguy hiểm chết người, mà người ta vẫn còn lôi theo nào trẻ con, bà già, nào bao tải túi xách to bằng cái trường kỉ, nào rương nào hòm xiểng to như cái tủ.)

Nếu như không có tàn tro dưới đầu máy, không có đèn tín hiệu, không có những tia lửa bắn ra từ ống khói toa hàng, và không có những ngọn đèn bão tù mù di chuyển qua lại ở đằng xa, thì không thể tin được rằng nhiều đoàn tàu đến nằm chen chúc nhau ở nơi này, rằng đây là nhà ga chứ không phải là cánh rừng đang yên giấc, cũng không phải là cánh đồng trống trải trong thời điểm giao mùa của một năm, đang ngoan ngoãn chờ mùa đông tới.

Nhưng tai vẫn nghe rõ tiếng ken két của các toa tàu nối vào nhau, tiếng còi của người bẻ ghi, tiếng phì phò của hai đầu máy, tiếng thình thịch bước chân và tiếng ồn ào của những con người bận rộn.

— Đường này! — Zotov gọi to, chỉ vào một lối ngược lại hướng sân ga, nơi có đoàn tàu có thể đưa Tveritinov đi.

Zotov xách một chiếc đèn bão với lớp kính màu xanh chung quanh, nhiều lần anh phải soi đèn vào chân để Tveritinov trông thấy đường mà đi.

— Chà, gió mạnh thật, muốn bay cả mũ! — Tveritinov than thở.

Trung úy lặng lẽ bước đi.

— Cái thứ đang đổ xuống không phải là tuyết, mà chui vào cổ áo sao lạnh thế! — Tveritinov nói tiếp, như để bắt chuyện.

Áo khoác của ông ta không có cổ.

— Chỗ này lầy lội lắm, — Zotov cảnh báo. Và họ bước vào đúng chỗ bùn lép nhép đặc quánh, không sao nhìn thấy chỗ khô ráo mà đặt chân trong bóng đêm.

— Đứng lại! Ai? — có tiếng quát của người lính gác ở đâu đó rất gần.

Tveritinov giật bắn người.

— Trung úy Zotov.

Bùn ngập đến mắt cá chân, có chỗ bùn đặc quánh, vất vả mới nhấc được chân lên, hai người vòng qua chái nhà kho từ phía bên kia, tiến đến bậc tam cấp. Họ giậm chân thật mạnh, rũ nước trên vai áo. Tay vẫn cầm ngọn đèn, trung úy dẫn Tveritinov vào phòng đợi, bên trong đặt một chiếc bàn lớn và hai ghế dài (nơi binh lính gác kho quân nhu ăn trưa và nhận chỉ thị). Lâu nay họ đã tìm được dây điện để thắp một bóng đèn ở đây, nhưng hôm nay trong căn phòng tối tăm này chỉ có một ngọn đèn bão tù mù đặt giữa bàn, các góc phòng tối om.

Cánh cửa trạm gác mở ra, một người lính xuất hiện, đèn điện bật sáng trong trạm gác chiếu từ phía sau lưng người lính lại, phía trước vẫn chìm trong bóng tối.

— Guskov đâu? — Zotov hỏi, giọng nghiêm nghị.

— Đứng lại! Ai? — bên ngoài có tiếng quát. Có bước chân lên bậc tam cấp, Guskov bước vào, người lính chạy theo sau.

— Có mặt, thưa trung úy. — Guskov phác một cử chỉ loáng thoáng như chào. Trong căn phòng tranh tối tranh sáng, Zotov có thể đoán được sự khó chịu cau có trên gương mặt lúc nào cũng có vẻ xấc xược của Guskov, y bực mình với ông trung úy, không phải là thượng cấp trực tiếp của y, làm rộn y vì những chuyện vặt vãnh.

Bỗng Zotov quát lên giận dữ:

— Trung sĩ Guskov! Phiên trực của anh có bao nhiêu người?

Guskov không hề hoảng hốt, nhưng gã ngạc nhiên (Zotov xưa nay chưa quát tháo bao giờ.) Gã khẽ trả lời:

— Có hai người, nhưng trung úy đã biết...

— Tôi không biết gì cả! Thực hiện theo đúng điều lệnh, ngay lập tức! Môi Guskov lại cong lên:

— Binh nhì Bobnev! Lấy súng, vào vị trí!

Người lính lúc nãy đi tìm Guskov đi vòng qua chỉ huy, giậm gót xuống sàn, rồi đi vào phòng bên cạnh.

— Còn trung sĩ, đi với tôi lên phòng chỉ huy!

Guskov đã đoán được có chuyện gì đặc biệt xảy ra.

Người lính quay lại, tay ôm khẩu súng có gắn lưỡi lê, dõng dạc đi ngang qua mọi người, rồi đứng trước cửa chỗ vị trí gác.

(Và lúc đó Zotov bỗng thấy rụt rè, những lời anh nói như không phải từ miệng anh thốt ra.)

— Ông... tôi... — giọng Zotov hết sức nhẹ nhàng, khó khăn lắm anh mới ngước mắt nhìn vào mặt Tveritinov —... tôi còn việc khác phải giải quyết... — lúc này giọng anh đặc sệt giọng miền Volga — Ông vui lòng ngồi ở đây, đợi một lúc.

Đầu của Tveritinov đội chiếc mũ kếp rộng trông có vẻ quái dị trong cái bóng nặng nề in trên tường và trên trần nhà. Chiếc khăn quàng lòng thòng quanh cổ ông trông như một cái thòng lọng.

— Ông bỏ tôi lại đây sao? Vasil Vasilich, tôi lỡ chuyến tàu mất! Tốt hơn là tôi ra ngoài sân ga...

— Không, không... Ông phải đợi ở đây... — Zotov bước vội ra cửa.

Tveritinov chợt hiểu ra:

— Ông... bắt giữ tôi? — ông ta la lớn — Đồng chí trung úy, vì tội gì chứ? Cho tôi đi, cho tôi bắt kịp chuyến tàu của tôi!

Ông lại làm cử chỉ như lúc cảm ơn Zotov, năm ngón tay xoè ra như hình rẻ quạt đặt lên ngực. Ông sải hai bước theo chân trung úy, nhưng người lính gác nhanh nhẹn giơ khẩu súng có gắn lưỡi lê để ngăn lại.

Zotov quay đầu lại, không chủ ý, một lần cuối trong đời, để nhìn khuôn mặt ấy trong cái ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn, khuôn mặt tuyệt vọng của Vua Lia trong hầm mộ.

— Ông làm gì thế này! Làm gì thế này! — Tveritinov gào lên bằng một giọng lanh lảnh như chuông — Không thể nào làm như thế được!!

Ông buông tay, bàn tay vươn ra khỏi tay áo, một tay xách chiếc ba lô, nở lớn cùng với cái bóng đen thẫm in lên tường, có cảm giác như trần nhà đổ sập xuống đầu ông.

— Cứ bình tĩnh, bình tĩnh lại, — Zotov nói như dỗ dành, chân đã dợm bước trên ngưỡng cửa nhà kho — có chút việc cần xác minh thôi...

Rồi anh quay gót.

Guskov bước theo anh.

Đi ngang qua phòng nhân viên điều độ quân sự, trung úy bảo:

— Giữ chuyến tàu này lại một lát nhé.

Anh ngồi xuống bàn trong phòng và viết:

“Kính gửi: Phòng an ninh NKVD,[5]

Xin gửi đến các đồng chí một đối tượng tên Tveritinov Igor Dementievich, khai là quân nhân đã từng trong vòng vây của địch, bị trễ chuyến tàu 245413 tại Skopin. Trong lúc nói chuyện với tôi...”

— Chuẩn bị! — anh bảo Guskov — Lấy một người rồi dẫn y đến Michurinsk.

Ít ngày trôi qua, ngày lễ cũng qua đi.

Nhưng Zotov không tài nào quên được con người có nụ cười tuyệt vời và tấm ảnh chụp con gái ông ta trong bộ áo váy kẻ sọc.

Nói cho cùng, dường như anh đã hành động đúng, cần phải làm như vậy.

Đúng, mà cũng không đúng...

Anh muốn khẳng định, cuối cùng người ấy đích thực là một gián điệp trá hình hay đã được xác minh và được trả tự do rồi. Zotov gọi điện đến phòng an ninh ở Michurinsk.

— Tôi có đưa đến chỗ các đồng chí một người tên là Tveritinov vào ngày một tháng mười một. Các đồng chí đã xác minh trường hợp này chưa?

— Còn đang điều tra! — người ta trả lời qua điện thoại một cách cứng rắn — Trung úy Zotov, trong các biên bản về số hàng hoá bị hư hại đến 80% có mấy điểm chưa rõ. Vụ này hết sức nghiêm trọng, chắc chắn có bàn tay kẻ địch phá hoại.

Và suốt mùa đông ấy, Zotov vẫn công tác tại nhà ga, vẫn với chức vụ sĩ quan phụ tá. Nhiều lần anh muốn gọi điện để hỏi lại nhưng sợ bị người ta nghi ngờ.

Có lần, một nhân viên an ninh điều tra đến công tác. Zotov làm ra vẻ tình cờ hỏi ông ta:

— Đồng chí có nhớ một người tên Tveritinov không? Mùa thu rồi tôi có bắt giữ ông ta!

— Tại sao đồng chí lại hỏi việc ấy? — tay công an cau mày, giọng quan trọng.

— Đơn giản là... tôi quan tâm... kết quả điều tra ra sao?

— Người ta sẽ điều tra cặn kẽ về trường hợp Tveritinov. Cứ yên tâm, chúng tôi làm việc gì bao giờ cũng đến nơi đến chốn.

Nhưng sau đấy, trong suốt cuộc đời mình, không bao giờ Zotov có thể quên được con người ấy...

 

1962

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1]Cơ quan thông tin tuyên truyền của Liên Xô thời kì 1941-1961, tương đương cấp Bộ (Soviet Information Bureau). Tất cả chú thích đều của ND.

[2]Lazar Moiseyevich Kaganovich (1893-1991) - nhà chính trị, giữ nhiều chức vụ trong chính quyền nhà nước Xô-viết, một trong những người thân cận của Stalin; được mệnh danh là “Lazar thép” (Iron Lazar), trong thời kì 1935-1937, trên cương vị Bộ trưởng Bộ dân ủy đường sắt, ông đã bỏ tù hàng ngàn quan chức và nhân viên quản lý ngành đường sắt với tội danh “phá hoại”.

[3]Chkalov Valery Pavlovich (1904-1938) - phi công lái máy bay thử nghiệm, anh hùng quân đội Liên Xô, hi sinh khi lái thử nghiệm máy bay chiến đấu Polikarpov I-180 năm 1938.

[4]Họ tên của người Nga gồm 3 phần: họ, tên, tên đệm; ví dụ như của ông khách: Tveritinov là họ (như họ Nguyễn, họ Trần của Việt Nam), Igor là tên, còn Dementievich là tên đệm, từ tên của người cha là Dementy. Ví dụ ta gọi Ivan Denisovich thì có nghĩa là người này tên Ivan, con của ông Denis.

[5]Viết tắt của Bộ dân ủy Nội vụ, sau này là Bộ Nội vụ.

 

 

-------------------
Trích từ cuốn Hai truyện ngắn [“Ngôi nhà của Matriona” (Матрёнин двор) và “Trường hợp tại nhà ga Kochetovka” (Случай на станции Кочетовка)], Phạm Ngọc dịch từ nguyên tác tiếng Nga trong Alexander Solzhenitsyn toàn tập (30 tập), Tập 1 — Truyện ngắn & Đoản văn, Nxb “Thời đại” Moskva, 2006. Giấy Vụn xuất bản lần thứ nhứt tại Sài Gòn, khổ 13x20,5cm. In xong & tặng giang hồ 11/12/2011
 

 

 

-----------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018